Charles Taylor (nhà chính trị Liberia)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Charles Taylor
Chức vụ
Tổng thống Liberia
Nhiệm kỳ 2 tháng 8 năm 1997 – 11 tháng 8 năm 2003
Tiền nhiệm Samuel Doe
Kế nhiệm Moses Blah
Thông tin chung
Đảng Ái quốc Dân tộc
Sinh 28 tháng 1, 1948 (66 tuổi)
Arthington, Liberia
Alma mater Đại học Bentley (cử nhân)
Tôn giáo Baptist
Con cái Charles McArther Emmanuel
Phillip Taylor

Charles McArthur Ghankay Taylor (sinh 28 tháng 1 năm 1948) là Tổng thống thứ 22 của Liberia nhiệm kỳ từ ngày 02 tháng 8 năm 1997 cho đến khi ông từ chức vào ngày 11 tháng 8 năm 2003[1].

Sinh ra tại Arthington, hạt Montserrado, Liberia, Taylor tốt nghiệp tại Bentley College tại Hoa Kỳ trước khi trở về Liberia để làm việc cho chính phủ của Samuel Doe. Sau khi bị khai trừ vì tham ô, cuối cùng ông đến Libya, nơi ông được đào tạo làm chiến binh du kích. Ông trở lại Liberia vào năm 1989 với tư cách người đứng đầu một nhóm kháng chiến ủng hộ Libya, có tên là Mặt trận Quốc gia yêu nước Liberia, nhằm lật đổ chế độ Doe, khởi xướng cuộc nội chiến Liberia lần thứ nhất. Sau khi Doe bị hành quyết, ông giành được quyền kiểm soát phần lớn đất nước và trở thành một trong những lãnh chúa nổi bật nhất ở châu Phi[2]. Sau một thỏa thuận hòa bình nhưng kết thúc bằng chiến tranh, Taylor dùng vũ lực ép buộc dân chúng bầu ông làm tổng thống trong cuộc tổng tuyển cử năm 1997[3].

Trong nhiệm kỳ tổng thống, Taylor bị cáo buộc về tội ác chiến tranhtội ác chống loài người do tham gia trong cuộc nội chiến Sierra Leone. Trong nước, các cuộc phản đối chế độ của ông bùng phát, mà đỉnh cao là sự bùng nổ nội chiến Liberia lần thứ hai vào năm 1999. Đến năm 2003, ông đã mất quyền kiểm soát nhiều vùng nông thôn và chính thức bị Tòa án Đặc biệt về Sierra Leone truy tố. Năm đó, ông từ chức do kết quả của áp lực quốc tế tăng dần và lưu vong ở Nigeria. Trong năm 2006, Tổng thống vừa được bầu Ellen Johnson Sirleaf chính thức yêu cầu dẫn độ ông. Khi đến Monrovia, ông đã được chuyển giao cho phái đoàn Liên Hiệp Quốc tại Liberia và ngay lập tức được đưa đến Sierra Leone. Ông hiện đang bị giam trong đơn vị trại giam Liên Hiệp Quốc, nơi ông được đưa ra xét xử trước Tòa án Đặc biệt về Sierra Leone cho vai trò của ông trong cuộc nội chiến[4]. Ông bị tòa tuyên án có tội ngày 26 tháng 4 năm 2012 với tất cả 11 tội danh, hình phạt dự kiến được tòa quyết định vào ngày 3 tháng 5 năm 2012.

Thời trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Charles McArthur Taylor sinh ra ở Arthington, một thị trấn gần Monrovia vào ngày 28 tháng 1 năm 1948, cha mẹ là Nelson và Bernice Taylor. Sau này ông lấy tên 'Ghankay', có thể để làm hài lòng và giành được sự quý mến của những người bản xứ[5]. Mẹ ông là một thành viên của nhóm dân tộc Gola. Theo hầu hết các báo cáo, cha ông là một người lai Mỹ-Liberia. Taylor là một sinh viên tại Bentley College, ở Waltham, Massachusetts, từ 1972 đến 1977, tốt nghiệp với văn bằng về kinh tế.

Năm 1979, ông đã chỉ huy một cuộc biểu tình tại phái bộ Liberia Liên Hiệp QuốcThành phố New York, phản đối đương kim Tổng thống Liberia William Tolbert, người đang thực hiện một chuyến thăm cấp nhà nước đến Hoa Kỳ vào thời điểm đó. Tolbert công khai tranh luận Taylor, nhưng khi Taylor bóng gió ám chỉ rằng ông sẽ chiếm giữ phái bộ Liberia bằng vũ lực, ông đã bị cảnh sát New York bắt. Sau đó ông được thả và được Tolbert mời trở lại Liberia.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Quist-Arcton, Ofeibea (11 tháng 8 năm 2003). “Liberia: Charles Ghankay Taylor, Defiant And Passionate To The End”. allAfrica.com. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2008. 
  2. ^ “Justice at last?”. The Economist. 31 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2007. 
  3. ^ Onishi, Norimitsu (7 tháng 12 năm 2000). “In Ruined Liberia, Its Despoiler Sits Pretty”. The New York Times. 
  4. ^ Cendrowicz, Leo (14 tháng 7 năm 2009). “'Lies and Rumors': Liberia's Charles Taylor on the Stand”. TIME. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2009. 
  5. ^ Onadipe, Abiodun (November năm 1998). “Liberia: Taylor's first year report card getting a "G", which stood for "Gansta". (President Charles Ghankay Taylor)”. Contemporary Review (The Contemporary Review Company Limited). Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2008.