Cheo cheo nhỏ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cheo cheo nhỏ
Lesser Mouse Deer (Tragulus Javanicus).jpg
Một con cheo cheo nhỏ ở sở thú Tây Ban Nha.
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Artiodactyla
Họ (familia) Tragulidae
Chi (genus) Tragulus
Loài (species) T. kanchil
Danh pháp hai phần
Tragulus kanchil
Raffles, 1821

Cheo cheo nhỏ hay Cheo cheo Kanchil (danh pháp hai phần: Tragulus kanchil) là một loài cheo cheo thuộc Họ Cheo cheo. là một loài động vật móng guốc ngón chẵn thuộc Họ Cheo cheo. Nó được tìm thấy ở Đông Dương, Miến Điện (eo đất Kra), Brunei, Campuchia, Trung Quốc (Vân Nam, không chắc chắn, có thể là T. williamsoni), Indonesia (Kalimantan, Sumatra, và nhiều hòn đảo nhỏ), Lào, Malaysia (bán đảo Malaya, Sarawak, và nhiều hòn đảo nhỏ), Singapore, Thái Lan, và Việt Nam.

Trước đây nó được coi là một phân loài của Tragulus javanicus.

Cheo cheo nhỏ là động vật có vú nhỏ nhất được biết đến có móng guốc, với kích thước con trưởng thành khoảng 45 cm và cân nặng 2 kg. Nó đang bị đe dọa bởi loài chó hoang dã săn nó.

Đặc điểm sinh học[sửa | sửa mã nguồn]

Cheo cheo nhỏ là động vật guốc chẵn nhỏ nhất, với ngoại hình giống hoẵnghươu, nhưng không có tuyến lệ. Toàn thân phủ lông màu nâu đỏ, vùng ngực và dưới bụng có 3 vệt lông trắng song song với thân, lông cheo mịn, ngắn và bóng mượt. Con đực và con cái đều không có sừng, nhưng một số con trưởng thành lại có răng nanh chìa ra bên mép, con đực có răng nanh dài hơn con cái, răng nanh hàm trên phát triển thò ra ngoài miệng.

Cheo cheo nhỏ là loài động móng guốc nhỏ nhất thế giới. Với kích thước không lớn hơn một con mèo nhà, chiều dài đầu đến thân trung bình khoảng từ 400 đến 480 mm, trọng lượng đạt từ 0,7 – 2 kg (chiều dài thân tối đa thì cũng khoảng 30–50 cm, trọng lượng 1,6-2,6 kg). Khuôn mặt cheo cheo nhỏ khá giống con chuột, bốn chân gầy nhẳng như que củi.

Tập tính[sửa | sửa mã nguồn]

Đang giao phối

Cheo là động vật sống và kiếm ăn đơn độc, nó có khả năng thích nghi với nhiều môi trường khác nhau nhưng chủ yếu là trong rừng, rẫy. Cheo kiếm ăn ban ngày và đêm theo đường nhỏ hoặc trong khu vực riêng có cây rậm rạp bao phủ. Cheo có tính nhút nhát, khi gặp kẻ thù nhảy trốn rất nhanh.

Mùa động dục và nuôi con sống ghép đôi giao phối vào khoảng tháng sáu và tháng bảy. Trước khi giao phối con cái dùng chân sau gõ xuống đất 8 lần trong vòng 3 giây báo cho con đực biết. Loài thú này mang thai khoảng 140 ngày. Mỗi lần đẻ 1 con vào cuối mùa mưa khi thức ăn dồi dào.

Trong văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

  • "Nhát như cheo" là môt câu thành ngữ rất thông dụng ở các tỉnh miền núi Việt Nam.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Timmins, R.J., Duckworth, J.W. & Semiadi, G. (2008). Tragulus kanchil. 2008 IUCN Red List of Threatened Species. IUCN 2008. Truy cập ngày 6 November 2009. Database entry includes a brief justification of why this species is of least concern.
  • Đặng Ngọc Cần, Hideki Endo, Nguyễn Trường Sơn và cộng sự: Danh lục các loài thú hoang dã Việt Nam. Shoukadoh Book Sellers, Nhật Bản, năm 2008.
  • Nguyễn Xuân Đặng, Lê Xuân Cảnh: Phân loại học lớp thú và đặc điểm khu hệ thú hoang dã Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học tự nhiên và Công nghệ Hà Nội, năm 2009.
  • Phạm Nhật, Đỗ Quang Huy: Động vật rừng Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội, năm 1998.
  • Mammal Species of the World

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]