Chiếc bè của chiến thuyền Méduse

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chiếc bè của chiến thuyền Méduse
Tiếng Pháp: Le Radeau de la Méduse
JEAN LOUIS THÉODORE GÉRICAULT - La Balsa de la Medusa (Museo del Louvre, 1818-19).jpg
Tác giả Théodore Géricault
Thời gian 1818-1819
Chất liệu Sơn dầu trên vải
Kích thước 491 × 716 cm, 193.3 × 282.3 in
Địa điểm Louvre, Paris

Chiếc bè của chiến thuyền Méduse (tiếng Pháp: Le Radeau de la Méduse) là một bức tranh sơn dầu được họa sĩ lãng mạn người Pháp Théodore Géricault (1791-1824) thực hiện trong thời gian 1818-1819. Bức tranh được hoàn thành khi ông 27 tuổi, và nó đã trở thành một biểu tượng cho chủ nghĩa lãng mạn Pháp. Với kích thước 491 cm x 716 cm (193,3 in × 282,3 in),[1] nó là một bức tranh mô tả một khoảnh khắc là hậu quả từ vụ đắm tàu frigate Méduse của hải quân Pháp, sau khi bị mắc cạn vào ngày 05 tháng 7 năm 1816 tại vùng biển ngoài khơi tại bờ biển mà ngày hôm nay thuộc về Mauritani. Ít nhất 147 người bị trôi dạt trên một chiếc bè tạm bợ được đóng sau khi con tàu mắc cạn, nhưng 15 người đã thiệt mạng 13 ngày trước khi họ được giải cứu, và những người sống sót phải chịu đựng nạn đói, khát, họ ăn thịt lẫn nhau một cách điên rồ. Sự kiện này đã trở thành một vụ bê bối quốc tế, một phần vì nguyên nhân lớn của nó là do sự thiếu khả năng của thuyền trưởng người Pháp, bị quy kết là được nhận chức dưới thẩm quyền của chế độ quân chủ Pháp vừa được phục hồi. Trên thực tế, vua Louis XVIII không có quyền lên tiếng trong việc bổ nhiệm thuyền trưởng, vì trước kia cũng như ngày nay, quốc vương không được trực tiếp tham gia vào các cuộc bổ nhiệm thuyền trưởng cho các chiến thuyền. Tử tước Chaumareys, một quý tộc đã được bổ nhiệm làm thuyền trưởng của Méduse, như một thói quen thường lệ được thực hiện trong nội bộ Bộ Hải quân.[2]

Trong việc lựa chọn cảnh bi kịch làm chủ đề cho một tác phẩm lớn đầu tiên —không được bất cứ ai ủy thác từ một sự kiện lịch sử gần đây— Géricault có ý muốn lựa chọn một sự cố nổi tiếng vì nó sẽ tạo ra sự quan tâm lớn của dư luận và giúp khởi động sự nghiệp của mình.[3] Sự kiện cuốn hút người họa sĩ trẻ, và trước khi ông thực hiện bản vẽ cuối, ông đã tiến hành nghiên cứu sâu rộng và thực hiện nhiều bản phác thảo. Ông đã phỏng vấn hai trong số người còn sống sót, và xây dựng một mô hình chi tiết về chiếc bè. Ông đã đến các nhà xác và bệnh viện, nơi ông có thể quan sát rõ màu sắc và kết cấu của thịt của người sắp chết và đã chết. Như ông đã dự đoán, bức tranh đã gây rất nhiều tranh cãi khi xuất hiện lần đầu tiên tại cuộc triển lãm tranh tại Paris năm 1819, nó đã thu hút nhiều lời khen ngợi nồng nhiệt và lời lên án cùng mức độ tương đương. Tuy nhiên, nó đã đạt được danh tiếng quốc tế và ngày nay, nó được xem như tiên phong mở đường trong lịch sử ban đầu về phong trào lãng mạn trong hội họa Pháp.

Mặc dù Chiếc bè của chiến thuyền Méduse giữ lại các yếu tố của loại tranh lịch sử, nhưng trong sự lựa chọn chủ đề ấn tượng và phong cách trình bày kịch tính của nó, nó đại diện cho sự bứt phá ra ngoài khuôn mẫu và trật tự của trường phái tân cổ điển đang hiện hành. Tác phẩm của Géricault gần như ngay lập tức thu hút sự được chú ý rộng sau khi nó được trưng bày lần đầu, và sau đó, nó đã được trưng bày tại London. Bức tranh đã được mua lại bởi bảo tàng Louvre ngay sau khi tác giả của nó qua đời khi mới ở tuổi 32. Ảnh hưởng của bức tranh có thể được nhìn thấy rõ trong các tác phẩm của Eugène Delacroix, J. M. W. Turner, Gustave CourbetÉdouard Manet sau này.

Sự thật ẩn sau bóng tối[sửa | sửa mã nguồn]

Câu chuyện bắt đầu tại Paris năm 1816, tức một năm sau khi hoàng đế Napoléon bị quân Anh và đồng minh đánh bại tại trận Waterloo. Để thể hiện sự ủng hộ đối với dòng họ Bourbon mới được phục hồi ở Pháp, người Anh trao trả cho nước Pháp hải cảng Saint Louis trên bờ biển Tây Phi thuộc Sénégal. Đây là một hải cảng thương mại sống còn, một điểm dừng chân lý tưởng trên đường đi từ Châu Âu tới mũi Hảo Vọng.[4]

Chiến thuyền Méduse, tranh của Jean-Jérôme Baugean

Để tiếp nhận chủ quyền đối với hải cảng này, nhà nước mới của Pháp chuẩn bị một hạm đội để đưa viên tổng toàn quyền mới Pháp tại Sénégal cùng với một số quan chức và binh lính tới hải cảng đó. Thuyền trưởng lãnh đạo hạm đội là Hugues Duroy De Chaumareys. Mặc dù có cái tên nghe rất kêu,[4] nhưng Duroy De Chaumareys không thích hợp chút nào với chức vụ mới, đã 53 tuổi nhưng ông ta vẫn ăn diện, bảnh bao chải chuốt, khó tính, và đặc biệt là đã hơn 20 năm không hề ra biển,[5][6] thậm chí chưa bao giờ chỉ huy một con tàu. Thực ra trước đó ông ta chỉ là một sĩ quan hải quan. Lý do chủ yếu để De Chaumareys được bổ nhiệm đơn giản vì ông ta là một nhân vật bảo hoàng tuyệt đối trung thành. Từng là một Tử tước (Vicomte), năm 1795, De Chaumareys đã gia nhập quân đội Anh để chống lại cuộc cách mạng Pháp. Năm 1814, lúc Louis XVIII được đưa trở lại ngai vàng cũng là lúc De Chaumareys được trả công một cách xứng đáng. Vì hải quân là một bộ phận sống còn của nhà nước Pháp, nên Louis XVIII thấy cần phải "bảo hoàng hoá" hải quân. Trong bối cảnh đó, De Chaumareys trở thành một lựa chọn thích hợp, bất chấp tính kiêu căng tự phụ và sự thiếu hiểu biết về hàng hải đến mức đáng lo ngại. Sự bổ nhiệm này làm yên lòng triều đình bao nhiêu thì lại làm cho các sĩ quan cấp dưới của De Chaumareys thất vọng bấy nhiêu. Những sĩ quan này phần lớn đã từng tham gia những chiến dịch của Napoléon chống lại quân Anh, làm sao họ có thể kính nể một gã bất tài chỉ huy mình? Quan hệ giữa họ với De Chaumareys trở nên căng thẳng. Trung uý Des Touches nói:

De Chaumareys là một quý tộc, nhưng suy nghĩ không được nghiêm túc cho lắm. Ông ta coi việc tôi phải làm tôi tớ vâng lời ông ta là một điều tự nhiên. Tôi đã giải thích để ông ta hiểu rằng chúng tôi không sai khi phục vụ tổ quốc trong giai đoạn ông ta chạy ra nước ngoài. Thế là ông ta khó chịu rồi thay đổi thái độ cư xử với tôi…

[4]

Sơ đồ Chiếc bè của chiến thuyền Méduse tại thời điểm các thủy thủ đoàn được cứu sống[7]

Ngày 17 tháng 6 năm 1816, dưới sự lãnh đạo của De Chaumareys, đoàn tàu hải quân của Pháp gồm 4 con tàu – chiến thuyền Méduse,[Ghi chú 1] tàu chở hàng Loire, thuyền hai buồm Argus và tàu hộ tống nhỏ Écho – khởi hành từ Rochefort, rầm rộ hướng tới Saint Louis. Trong nỗ lực được thực hiện trong điều kiện thời tiết tốt, Méduse đã vượt qua các tàu khác, nhưng do khả năng định vị kém, nó bị trôi chệch hướng 100 dặm (161 km) với hạm đội của mình. Thế rồi tai họa xảy ra, ngày 02 tháng 7, nó bị mắc cạn trên bãi cát ngoài khơi bờ biển Tây Phi, gần Mauritania ngày nay. Con tàu Méduse tuy không bị vỡ, chỉ mắc kẹt, nhưng rất khó để kéo nó ra khỏi một dải đá ngầm. Vì vậy con tàu từ từ chìm xuống tới những mực nước nhơ bẩn mà nó có thể chìm. Mọi người đã đổ lỗi này cho De Chaumereys, một người thiếu khả năng cũng như kinh nghiệm, một kẻ lưu vong (émigré) nhưng lại được phong tước.[7][8][9] Nhiều người đã thử đẩy con tàu ra khỏi dãi đã ngầm, nhưng đều thất bại. De Chaumereys quyết định rời bỏ con tàu. Ông ta tập hợp những người tin cẩn để thảo luận phương án cấp cứu, tất nhiên thuỷ thủ không được mời tham dự. Nhiều người đã tỏ ra lo ngại nếu đi 60 dặm (97 km) tới bờ biển phía tây châu Phi cùng sáu chiếc thuyền con của Méduse. Mặc dù Méduse chở tới 400 người, bao gồm 160 thủy thủ đoàn, nhưng số thuyền hiện có chỉ có thể chở được 250 người. De Chaumereys nêu khó khăn rằng số thuyền cấp cứu không đủ để chở tất cả vào đất liền, Schmaltz lập tức đưa ra "sáng kiến": làm một chiếc bè để chở thuỷ thủ vào đất liền, ưu tiên dành thuyền cấp cứu cho những hành khách "quan trọng", và những thuyền này sẽ kéo chiếc bè vào bờ an toàn. Phần còn lại gồm ít nhất 146 đàn ông và một phụ nữ được chất đống vào một chiếc bè tạm bợ.[10]

Ít người hơn trên một chiếc thuyền cấp cứu có nghĩa là khẩu phần ăn cho mỗi người trên con thuyền đó sẽ lớn hơn, đó là cách tính toán của đám người "quan chức quyền quý". Cuối cùng thì những chiếc thuyền cấp cứu cũng bắt đầu giương buồm lướt sóng chạy vào bờ, kéo theo chiếc bè. Toàn chiếc bè chỉ có duy nhất 1 túi bánh bánh bích quy để ăn (nhưng đã tiêu thụ hết ngay trong ngày đầu tiên), hai thùng (bị rơi mất xuống biển trong khi gây lộn) và một vài thùng rượu. Chẳng bao lâu đám người trên bè bắt đầu phản ứng với cách đối xử bất công đê tiện quá lộ liễu đó. Vì quá thất vọng, họ rắp tâm sẽ nhảy lên bất cứ chiếc thuyền cấp cứu nào đi gần tới họ.[11] Tình hình đó làm De Chaumereys hoảng sợ và hắn lập tức ra lệnh cắt đứt dây nối với chiếc bè, để mặc cho nó trôi nổi lênh đênh trên biển. Những người trên chiếc bè lúc đó thất vọng và hoảng loạn, khi họ trông thấy những chiếc thuyền cấp cứu dần dần khuất khỏi đường chân trời, để mặc họ ở lại trơ trọi giữa lòng biển khơi xa cách đất liền. Đói khát, mất ngủ, và vô vọng, thuỷ thủ càng ngày càng trở nên hung dữ, họ tấn công nhau bằng dao rựa.

Sau 13 ngày lênh đênh trên biển, ngày 17 tháng 7 năm 1816, bè được giải cứu bởi chiến thuyền Argus, nhưng trên thực tế con tàu này không hề có ý định tìm kiếm chiếc bè này.[7][12] Đến thời điểm này chỉ còn có 15 người vẫn còn sống, những người khác đã bị giết hoặc bị ném xuống biển bởi đồng đội của họ, bị chết đói, hoặc tự gieo mình vào biển trong tuyệt vọng.[Ghi chú 2] Sự kiện này đã trở thành một trong những vụ bê bối lớn nhất cho chế độ quân chủ Bourbon, chỉ mới được khôi phục quyền lực gần đây sau khi Napoléon bại trận năm 1815.[13][Ghi chú 3]

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Chiếc bè của chiến thuyền Méduse miêu tả khoảng thời gian 13 ngày sau khi chiếc bè bị trôi dạt, khoảng thời gian 15 người sống sót đang cố gắng kêu cứu một con tàu ở đằng xa trong tuyệt vọng. Theo đánh giá của một người Anh thời kỳ đó, bức tranh mô tả thời điểm mà chiếc bè sắp biến thành "tàn tích".[14] Tác phẩm được thực hiện trên một kích thước vĩ đại, 491 × 716 cm (193.3 × 282.3 in), và vì thế nó mô tả toàn cảnh một cách rất thực, với kích thước như ngoài đời thường.[15] Khoảng cách xa gần được thể hiện rất rõ trong bức tranh, chính điều này đã tác động rất nhiều đến cảm xúc của người xem.[16]

Chiếc bè tạm bợ không còn đủ khả năng cưỡi những con sóng sâu. Một ông già đang cố giữ xác chết của con trai trên đầu gối, một giọt nước mắt rơi trên má trong sự tuyệt vọng. Rất nhiều xác chết được tác giả thể hiện ở tiền cảnh, ở ngoài rìa của chiếc bè, nơi mà những con sóng lớn sẵn sàng quét họ ra khỏi chiếc bè bất cứ lúc nào. Người đàn ông ở giữa đã chỉ người khác xem một tàu cứu hộ; và bên cạnh đó, một phi hành đoàn người gốc Phi, Jean Charles,[17] đang đứng trên một thùng rỗng gỗ và đang cố gắng vẫy khăn để gây sự chú ý cho con tàu kia. Qua cảnh tượng này, tác giả chỉ ra rằng, cuộc sống chỉ có ý nghĩa khi có hy vọng, dù chỉ là một hy vọng mong manh – con người không thể tiếp tục sống khi tuyệt vọng.[18]

Triển lãm và tiếp nhận[sửa | sửa mã nguồn]

"Chiếc bè đã đưa những kẻ sống sót tới giới hạn trải nghiệm của con người"

—Jonathan Miles[4]

Chiếc bè của chiến thuyền Méduse được trưng bày lần đầu tiên tại cuộc triển lãm tranh tại Paris năm 1819 dưới cai tiêu đề chung chung là Scène de Naufrage (Cảnh tàu đắm), mặc dù chủ đề thực sự của nó không thể nhầm lẫn cho người xem đương đại.[19] Chiếc bè của Géricault là ngôi sao của cuộc triển lãm lần này: "Nó đập vào mắt mọi người và kéo người xem vây quanh nó" (Le Journal de Paris). Vua Louis XVIII đã đến thăm cuộc triển lãm ba ngày trước khi khai mạc, và theo như tường trình cho hay "Monsieur, vous venez de faire un naufrage qui n'en est pas un pour vous",[20] tạm dịch là "Thưa ngài (Géricault), con tàu đắm của ngài nhất định không gặp tai ách".[21] Các nhà phê bình đã được phân chia: rùng rợn và "terribilità" về niềm đam mê thực hiện chủ đề, nhưng tín đồ trường phái cổ điển thể hiện sự chán ghét của họ về những gì họ mô tả như một "đống xác chết," chủ nghĩa hiện thực mà họ được coi là một xa từ "vẻ đẹp lý tưởng" nhập thể bởi Girodet trong PygmalionGalatea (chiến thắng cùng năm đó). Công trình của Géricault đã đối mặt với một nghịch lý lớn của hội hoạ: Làm thế nào để một chủ đề kinh hãi và thậm chí "ghê tởm" như thế có thể trở thành một tác phẩm mỹ thuật được tán thưởng? Làm thế nào để nghệ thuật hoà giải được với thực tế? Coupin Marie-Philippe de la Couperie, một họa sĩ Pháp, cùng thời với Géricault xác thực: "Ngài Géricault đã nhầm rồi. Mục tiêu của hội Géricault hoạ là nói những điều đẹp đẽ với tâm hồn và con mắt, thay vì gây ra cảm giác khó chịu gớm tởm như thế". Nhưng bức tranh vẫn được rất nhiều người ngưỡng mộ, trong đó có nhà văn kiêm nhà phê bình nghệ thuật nổi tiếng Auguste Jal, một người không tiếc lời ca ngợi chủ đề mang tính chính trị chống đối và ý thức đòi tự do của nó (bênh vực người thấp cổ bé họng, phê phán chủ nghĩa bảo hoàng cực đoan). Nhà sử học Jules Michelet còn làm cho vấn đề trở nên nghiêm trọng hơn khi ông cảnh báo xã hội đương thời: "Toàn bộ xã hội chúng ta đang đi trên chiếc bè Méduse [...]."[3]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Đây là tàu frigate Méduse thuộc lớp Pallas với 40 pháo được hạ thủy năm 1810. Nhiều người nhầm lẫn nó với một tàu frigate khác có 26 pháo cũng mang tên Méduse thuộc lớp Danae từng tới Việt Nam; vào ngày 24 tháng 7 năm 1789, Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine) và Hoàng tử Cảnh (con trai Nguyễn Ánh) đi trên chiến thuyền Méduse cùng với khoảng 300 thủy quân, 80 pháo binh và 50 lính da đen, cập bến Bãi Dừa, Cap Saint-Jacques, Vũng Tàu ngày nay. Cuộc hành trình tới Saint Louis năm 1816 đặt dấu chấm hết cho sự nghiệp chinh chiến "oai hùng" của "nữ quỷ Méduse".
  2. ^ Bốn hoặc năm người sống sót đã chết sau khi được thủy tủ đoàn của Argus cứu sống.
  3. ^ The other boats became separated and though most eventually arrived at St Louis Island in Senegal, some put ashore further along the coast and lost some of their party to heat and starvation. Of the 17 men that remained behind on the Méduse only 3 were still alive when rescued by the British 42 days later.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Berger, Klaus. "Géricault and His Work". Lawrence: University of Kansas Press, 1955. 78
  2. ^ For Louis XVIII's real political actions and appointments, see P. Mansel, Louis XVIII, (London 1981) and for the general political climate of the period, see Munro Price, The Perilous Crown: France between Revolutions (London, 2007.)
  3. ^ a ă "Chiếc bè của chiến thuyền Méduse". Louvre. Truy cập ngày 19/11/2008.
  4. ^ a ă â b Phạm Việt Hưng. “Chiếc bè của chiến thuyền Méduse”. Vietsciences. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2012. 
  5. ^ Zarzeczny, Matthew. "Theodore Géricault’s 'The Raft of the Méduse' Part I". Member’s Bulletin of The Napoleonic Society of America, Fall 2001.
  6. ^ Zarzeczny, Matthew. "Theodore Géricault’s 'The Raft of the Méduse' Part II". Member’s Bulletin of The Napoleonic Society of America, Spring 2002.
  7. ^ a ă â Grigsby, Darcy Grimaldo. Extremities: Painting Empire in Post-Revolutionary France. Yale University Press, 2002. 177. ISBN 0-300-08887-6
  8. ^ Trapp, Frank Anderson. "Gericault's 'Raft of the Medusa', by Lorenz Eitner. The Art Bulletin, Volume 58 No 1, March, 1976. 134–37
  9. ^ Eitner, 191–192
  10. ^ Borias, 2:19
  11. ^ Thư Ngân. “"Chúng ta đang trên chiếc bè Méduse"”. tuanvietnam.net. 
  12. ^ Miles, Jonathan. "Death and the masterpiece". The Times, March 24, 2007. Retrieved on November 20, 2008.
  13. ^ Brandt, Anthony. "Swept Away: When Gericault Painted the Raft of the Medusa, He Immersed Himself in His Subject's Horrors". American Scholar, Autumn 2007.
  14. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Christine
  15. ^ Boime, trang 142
  16. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên banham
  17. ^ Hagen & Hagen, trang 378
  18. ^ Muther, trang 224
  19. ^ Christiansen, Rupert. The Victorian Visitors: Culture Shock in Nineteenth-Century Britain". New York Times, June 3, 2001. Retrieved on January 04, 2008.
  20. ^ Reported by Gérard, cited in: Wrigley, Richard (1995). The origins of French art criticism: from the Ancien Régime to the Restoration. Oxford: Clarendon Press. tr. 76. ISBN 978-0-19-817409-7. 
  21. ^ Barnes, Julian (1990). A history of the world in 10 1/2 chapters . London: Picador. tr. 126. ISBN 0-330-31399-1. 

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Alhadeff, Albert. The Raft of the Medusa: Géricault, Art, and Race, Prestel, 2002, ISBN 3-7913-2782-8, ISBN 978-3-7913-2782-2
  • Barnes, Julian. A History of the World in 10½ Chapters. London: Jonathan Cape, 1989. ISBN 0-09-954012-6. Chapter 5, Shipwreck, is an analysis of the painting.
  • Berger, Klaus & Gaericault, Thaeodore. Gericault: Drawings & Watercolors. New York: H. Bittner and Company, 1946.
  • Boime, Albert. Art in an Age of Counterrevolution 1815–1848. Chicago: University of Chicago Press, 2004. ISBN 0-226-06337-2
  • Borias, Georges-Antoine. Géricault: The Raft of the 'Medusa' (Film). The Roland Collection of Films on Art. Directed by Touboul, Adrien, 1968.
  • Eitner, Lorenz. Gericault's 'Raft of the Medusa'. New York, Phaidon, 1972. ISBN 0-8021-4392-X
  • Eitner, Lorenz. 19th Century European Painting: David to Cézanne. Westview Press, 2002. ISBN 0-8133-6570-8
  • Elsen, Albert. The Gates of Hell by Auguste Rodin. Stanford University Press, 1985. ISBN 0-8047-1273-5
  • Fried, Michael. Manet's Modernism: Or, the Face of Painting in the 1860s. Chicago: University of Chicago Press, 1998. ISBN 0-226-26217-0
  • Grigsby, Darcy Grimaldo. Extremities: Painting Empire in Post-Revolutionary France, (a study of the works of Girodet, Gros, Gericault, and Delacroix). Yale University Press, 2002. ISBN 0-300-08887-6
  • Hagen, Rose-Marie & Hagen, Rainer. What Great Paintings Say. Vol. 1. Taschen, 2007 (25th Ed). 374–7. ISBN 3-8228-4790-9
  • McKee, Alexander. Wreck of the Medusa, The Tragic Story of the Death Raft. London: Souvenir Press, 1975. ISBN 0-451-20044-6
  • Miles, Jonathan. The Wreck of the Medusa: The Most Famous Sea Disaster of the Nineteenth Century. Atlantic Monthly Press, 2007. ISBN 978-0-87113-959-7
  • Muther, Richard. The History of Modern Painting Vol. 1. London: J.M. Dent, 1907.
  • Néret, Gilles. Eugène Delacroix: The Prince of Romanticism. Taschen, 2000. ISBN 3-8228-5988-5
  • Nicholas, Lynn H. (1994). The Rape of Europa: the Fate of Europe's Treasures in the Third Reich and the Second World War. New York: Alfred A. Knopf. 10-ISBN 0-679-40069-9/13-ISBN 978-0-679-40069-1; OCLC 246524635
  • Noon, Patrick & Bann, Stephen. Crossing the Channel: British and French Painting in the Age of Romanticism. London: Tate Publishing, 2003. ISBN 1-85437-513-X (see also "Riding" below)
  • Novotny, Fritz. Painting and Sculpture in Europe, 1780 to 1880. Baltimore: Penguin Books, 1960.
  • Riding, Christine. "The Raft of the Medusa in Britain". In: Noon, Patrick & Bann, Stephen. Crossing the Channel: British and French Painting in the Age of Romanticism. London: Tate Publishing, June 2003. ISBN 1-85437-513-X
  • Riding, Christine. "The Fatal Raft: Christine Riding Looks at British Reaction to the French Tragedy at Sea Immortalised in Gericault's Masterpiece 'the Raft of the Medusa'". History Today, February 2003.
  • Rowe Snow, Edward. Tales of Terror and Tragedy. New York: Dodd Mead, 1979. ISBN 0-396-07775-7
  • Wellington, Hubert. The Journal of Eugène Delacroix. Phaidon (Cornell University Press), 1980. Library of Congress Number 80-66413
  • Wintle, Justin. Makers of Nineteenth Century Culture. London: Routledge, 2001. ISBN 0-415-26584-3

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]