Chiếc hộp Pandora

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Pandora mở pithos được tặng bởi thần Zeus, do đó thả tất cả các tai ương của thế giới.

Trong thần thoại Hy Lạp, sự tích về chiếc hộp Pandora kì bí đã để lại cho nhân gian những điều thú vị và hấp dẫn. Theo truyền thuyết, đó là một chiếc hộp mà Zeus đã tặng cho nàng Pandora - người phụ nữ đầu tiên đến thế giới loài người. Nàng Pandora đã được Zeus dặn kĩ rằng không được mở chiếc hộp đó ra. Nhưng với sự tò mò của mình, Pandora đã mở chiếc hộp ra và tất cả những gì trong chiếc hộp kì bí đó đã khiến cho tất cả những điều bất hạnh tràn ngập khắp thế gian: thiên tai, bệnh tật, chiến tranh… và chiếc hộp chỉ còn sót lại một chút "hy vọng" mang tên Pandora cho loài người để có thể tiếp tục sống.

Truyền thuyết[sửa | sửa mã nguồn]

Pandora tranh của Jules-Joseph Lefebvre
Die Büchse der Pandora – bản khắc axit của Jacques Joseph Coinys

Theo chỉ thị của Zeus, Hephaistos đã tạo ra người phụ nữ đầu tiên bằng đất sét, và đặt tên là Pandora. Khi Prometheus ăn cắp ngọn lửa từ trên thiên thần, Zeus để trả thù đã tặng Pandora cho anh em của Prometheus, Epimetheus. Mặc dù được người anh em Prometheus trước đó cảnh cáo không được nhận bất cứ món quà nào của thiên thần, vì nó sẽ mang đến đau khổ, nhưng trước sắc đẹp của Pandora, Epimetheus đã siêu lòng và nhận quà này. Zeus đã tặng Pandora một chiếc hộp làm quà cưới, và dặn dò là không vì bất cứ lý do gì được phép mở chiếc hộp này. Tuy nhiên sau ngày cưới vì tò mò Pandora đã mở nó ra.[1] Tất cả những thói hư tật xấu đã lan ra. Thiên tai, bệnh tật, và chết chóc, những cái mà con người trước đó không biết tới đã tràn lan ra khắp thế giới. Chỉ có điều tốt lành duy nhất mà chiếc hộp này mang tới là niềm hy vọng.[1]

Mở hộp Pandora[sửa | sửa mã nguồn]

Một cụm từ mà phương Tây thường dùng có nghĩa là gây ra một điều không lành, khó mà có thể hàn gắn được.

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Theo bà Gisela Fuchs truyền thuyết chiếc hộp Pandora không gây ảnh hưởng nhiều trong thời cổ đại cổ điển mà phải đợi tới thời kỳ Phục Hưng.[2] Vào cuối thế kỷ 19, Frank Wedekind đã viết ra một bi kịch với tựa là Die Büchse der Pandora. 1928/29 Georg Wilhelm Pabst lấy bi kịch này làm phim câm. 1991 ban nhạc trẻ Anh Quốc OMD (Orchestral Manoeuvres in the Dark) cho phát hành bản nhạc Pandora's Box. Trong videoclip của bản nhạc có nhiều màn nguyên gốc từ cuốn phim câm này.[3]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Athanassakis, Apostolos, Hesiod: Theogony, Works and Days and The Shield of Heracles. Translation, introduction and commentary, Johns Hopkins University Press, Baltimore and London, 1983. Cf. P.90
  • Hesiod; Works and Days, in The Homeric Hymns and Homerica with an English Translation by Hugh G. Evelyn-White, Cambridge, MA.,Harvard University Press; London, William Heinemann Ltd. 1914. Online version at the Perseus Digital Library.
  • Lamberton, Robert, Hesiod, New Haven: Yale University Press, 1988. ISBN 0300040687. Cf. Chapter II, "The Theogony", and Chapter III, "The Works and Days", especially pp. 96–103 for a side-by-side comparison and analysis of the Pandora story.
  • Meagher, Robert E.; The Meaning of Helen: in Search of an Ancient Icon, Bolchazy-Carducci Publishers, 1995. ISBN 9780865165106.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Herder Lexikon: Griechische und römische Mythologie. Herder, Freiburg 1981, Lemma Pandora.
  2. ^ Gisela Fuchs, Der Becher des Sonnengottes. Zur Entwicklung des Motivs „Becher des Zorns". Hamburg/London/Münster 2003, S. 60.
  3. ^ Die Büchse der Pandora, Jürgen Fritz, Suite101, 13.07.2013