Chiến dịch Nam Trung

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Gia Cát bình Man
Một phần của Chiến tranh thời Tam Quốc
.
Thời gian 225
Địa điểm Nam Trung
Kết quả Thục Hán chiến thắng
Tham chiến
Thục Hán Quân nổi dậy
Nam Man
Chỉ huy
Gia Cát Lượng Ung Khải,
Chu Bảo,
Cao Định ,
Mạnh Hoạch Đầu hàng
.

Chiến dịch Nam Trung hay còn gọi là Gia Cát Nam chinh hay Thất cầm Mạnh Hoạch (chữ Hán:諸葛亮南征) là tên gọi của chiến dịch tấn công vào vùng Nam Trung do Gia Cát Lượng chỉ huy vào năm 225 trong thời kỳ Tam Quốc trong lịch sử Trung Quốc. Chiến dịch này nhằm dập tắt những mầm móng phản loạn gây hại đến nhà Thục Hán và cũng chuẩn bị một bước cho các chiến dịch Bắc phạt. Trong chiến dịch này, Gia Cát Lượng đã tiếp thu ý kiến của Mã Tốc-người từng đảm nhiệm chức Thái Thú Nam Trung là chủ trương "đánh vào lòng người làm thượng sách", nên đã nhanh chóng kết thúc chiến sự ở Nam Trung[1]. Sau khi dẹp xong phản loạn ở Nam Trung do Mạnh Hoạch cầm đầu các bộ lạc Nam Man, trong vấn đề có cần thiết hay không để Hán quan, Hán binh ở lại cai trị dân tộc thiểu số, Gia Cát Lượng đã căn cứ vào tình hình thực tế không để binh lính và quan lại cai trị ở lại cho nên đã thu được hiệu quả tốt đẹp "kỷ cương thiết lập, dân tộc thiểu số và người Hán cùng yên bình"[2].

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Sau thất bại tại Trận Di Lăng, Lưu Bị ốm chết, Gia Cát Lượng tiếp tục phò tá hậu chúa Lưu Thiện lúc này mới 17 tuổi, ông đảm nhận chức Thừa tướng gách vác trọng trách trị vì thực quyền của nhà Thục Hán, tiếp tục theo đuổi mục tiêu thống nhất Trung Nguyên. Năm 223, Gia Cát Lượng bắt tay vào việc thực hiện bước 2 của bản kế hoạch chiến lược Long Trung đối sách. Một mặt ông cử Đặng Chi sang làm sứ giả Đông Ngô, khôi phục lại mối quan hệ đồng minh với Tôn Quyền. Đồng thời chấn chỉnh nền chính trị trong nước, ổn định nội bộ, dự trữ lực lượng chuẩn bị ráo riết cho chiến dịch Bắc phạt[3].

Những cuộc nổi loạn vũ trang[sửa | sửa mã nguồn]

Tuy nhiên trong lúc này ở vùng Nam Trung[4] xảy ra cuộc nổi loạn vũ trang ở quận Ích Châu[5] của một số địa chủ do Ung Khải cầm đầu, những người này đã nổi dậy giết chết quan Thái thú do Thục Hán bổ nhiệm. Tiếp đó xảy ra hai cuộc nổi loạn tiếp theo để hưởng ứng là cuộc khởi nghĩa ở Chu Bảo cầm đầu ở Hoàng Bình-Quý Châu và Cao Định ở Tây Xương-Tứ Xuyên[6].

Ung Khải sai Mạnh Hoạch tiến hành tuyên truyền xuyên tạc trong vùng dân tộc thiểu số ở Nam Trung. Mạnh Hoạch là nhân vật có tiếng tăm và uy tín trong khu vực các dân tộc thiểu số ở khu vực này. Để triển khai thực hiện mưu đồ của Ung Khải, Mạch Hoạch đã tung tin trong nhân dân dân tộc thiểu số rằng nhà Thục Hán sẽ bắt họ cống nạp những thứ khó tìm là[7]:

  • 300 con chó mực mà lông trước ngực phải hoàn toàn màu đen
  • 3 đấu óc rệp
  • 3.000 cây gỗ đoạn dài 3 trượng dù loài gỗ này không bao giờ mọc quá hai trượng

Do Mạnh Hoạch kích động nên phong trào chống đối ngày càng mạnh mẽ, đội ngũ quân nổi dậy ngày càng đông đảo và lan truyền khắp vùng Nam Trung.

Đối sách của Thục Hán[sửa | sửa mã nguồn]

Sắu khi cuộc nổi loạn đầu tiên xảy ra, Gia Cát Lượng áp dụng chính sách an ủi vỗ về, không thảo phạt, giải quyết bằng phương thức hòa bình. Tuy nhiên Ung Khải lại cho rằng chính quyền Thục Hán quá yếu đuối, nhu nhược cho nên ông ta càng quậy phá mạnh tay hơn. Do muốn ổn định hậu phương nhằm thực hiện việc lớn là Bắc phạt, Gia Cát Lượng quyết định tự mình đem quân xuống phía Nam[8].

Tháng 3 khi Gia Cát Lượng xuất quân thì Tham quân Mã Tốc đến đưa tiễn. Gia Cát Lượng hỏi ông này về kế sách thì Mã Tốc đáp rằng: "Địa thế vùng Nam Trung rất hiểm yếu, cách trở, từ lâu đã không phục tùng triều đình, cho dù bây giờ ta dùng vũ lực đánh bại họ thì khi đại quân rút đi, họ lại tiếp tục làm phản, cho nên đạo lý dùng binh nên là đánh vào lòng người mới là thượng sách còn đánh vào thành lũy là hạ sách, chiến tranh tâm lý là thượng sách, chiến tranh binh đao là hạ sách, mong rằng thừa tướng chớ dựa vào vũ lực quá nhiều, hãy nghĩ cách chinh phục lòng người là chính". Kế hoạch này hoàn toàn trung hợp với phương án hòa bình, an ũi vỗ về của Gia Cát Lượng[9].

Diễn biến[sửa | sửa mã nguồn]

Quân Thục tiến quân[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 225, Gia Cát Lượng sai Mã Trung chỉ huy cánh quân phía Đông, đi từ Nghị Tân xuống phí Đông Nam để đánh Chu Bảo, cử Lý Khôi đang đóng quân tại huyện Bình Di[10] đem binh mã dưới quyền làm cánh quân trung lộ đánh vào quận Ích Châu nhằm vây bọc Ung Khải. Còn Gia Cát Lượng đích thân dẫn quân chủ lực đi theo hướng Tây trước hết đánh Cao Định sau đó sẽ kết hợp với hai cánh quân đông và trung để đánh Ung Khải, dập tắt cuộc bạo loạn này[9].

Giao tranh[sửa | sửa mã nguồn]

Cánh quân phía Tây dưới sự chỉ huy của Gia Cát Lượng xuất phát từ An Thượng[11] tiến vào vùng nổi loạn. Cao Định đã cho quân đào hào đắp lũy phòng thủ tại Hán Nguyên, Diêm Nguyên, Chiêu Giác và các nơi khác. Gia Cát Lượng cố ý chần chừ không tiến quân. Khi Cao Định tập trung quân từ các nơi về một chỗ, Gia Cát Lượng mới đánh một trận quyết định, tiêu diệt hết quân nổi loạn, giết chế Cao Định.

Trong lúc đó cánh quân phía Đông cũng đã đánh bại Chu Bảo, giải quyết cơ bản cuộc bạo loạn ở hai phía Đông và Tây. Gia Cát Lượng chỉ huy cả bai cánh quân thừa thắng truy kích thọc thẳng vào căn cứ của Ung Khải ở Ích Châu[12].

Tháng 5, đạo quân của Gia Cát Lượng hành quân vượt qua vùng rừng núi hiểm trở không một dấu chân người, vượt qua sông Kim Sa hiểm trở đến gần được quân Ích Châu. Trong lúc đó, Ung Khải lại bị thuộc hạ của Cao Định giết chết. Mạnh Hoạch thay thế Ung Khải trở thành thủ lĩnh quân nổi dậy[12].

Thất cầm Mạnh Hoạch[sửa | sửa mã nguồn]

Nhận thấy uy tín và ảnh hưởng sâu rộng của Mạnh Hoạch ở vùng Nam Trung và vì muốn giải quyết thật tốt mối quan hệ giữa các dân tộc thiểu số vùng này với triều đình Thục Hán nên Gia Cát Lượng quyết định đánh vào lòng người của Mạnh Hoạch, coi đó là chiến thuật chủ đạo. Ông ta hạ lệnh khi đánh nhau với Mạnh Hoạch, quân Thục chỉ được phép bắt sống, không được giết chế hoặc làm họ bị thương[13].

Trong trận đầu giao tranh, Mạnh Hoạch bị quân Thục bắt sống, Gia Cát Lượng không giết, không làm nhục mà còn bày tiệc khoản đãi, nhằm làm cho Mạnh Hoạch chịu hàng phục, Gia Cát Lượng còn cho quân bày trận thế, dẫn Mạnh Hoạch tham quan rồi hỏi Mạnh Hoạch: "Với một đội quân như thế, liệu ông có đánh thắng được không?. Mạnh Hoạch trả lời rằng: Trước đây tôi chưa biết thực hư về quân đội của ông, chẳng qua tôi thất bại vì mắc phải mưu kế của ông. Bây giờ tôi thấy được trận thế, biết rõ thực tình, bất quá cũng chỉ có vậy thôi. Nếu ông dám thả cho tôi về, đánh lại thì chắc là tôi thắng"[12].

Gia Cát Lượng tha cho Mạnh Hoạch trở về, Mạnh Hoạch tập hợp lại lực lượng giao tranh lần nữa nhưng vẫn bị thua và bị quân Thục bắt sống. Lần này Mạnh Hoạch vẫn chưa chịu phục. Gia Cát Lượng lại thả ông ta ra, cứ như vậy lặp đi lặp lại đến 7 lần. Đến lần thứ 7, khi Gia Cát Lượng định thả Mạnh Hoạch thì Mạnh Hoạch không chịu về vì ông ta nhận thấy Gia Cát Lượng quả thật là con người phi thường và trong thâm tâm không có ý thù địch với mình. Mạnh Hoach thành tâm nói với Gia Cát Lượng rằng: "Thiên uy của Thừa tướng như vậy thì người miền Nam không bao giờ làm phản nữa"[12].

Kết cục[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Mạnh Hoạch chịu thần phục thì các thế lực phản loạn ở miền Nam cũng nhanh chóng lần lượt quy hàng. Mùa thu năm 225, ba cánh quân Đông, Tây và Trung hội quân ở Điền Trì (Vân Nam) ăn mừng thắng lợi của cuộc Nam tiến và giai thoại bảy lần bắt bảy lần thả được truyền trụng[13].

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Mưu sự tại nhân, Tạ Ngọc Ái, nhà xuất bản Từ Điển Bách khoa, Hà Nội, năm 2010
  • Thuật mưu quyền, Quang Thiệu, Quang Ninh, Nhà xuất bản Lao động và Xã hội, Hà Nội, năm 2006
  • Những nhân vật quân sự nổi tiếng thế giới, Kha Xuân Kiều, Hà Nhân Học, Nhà xuất bản Thanh niên, Hà Nội, năm 2003. (Tài liệu này được dịch từ cuốn sách cùng tên do Nhà xuất bản Thiên Thanh – Bắc Kinh xuất bản năm 2000)

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Thuật Mưu quyền, Quang Thiệu, Quang Ninh, Nhà xuất bản Lao Động và Xã hộ năm 2006, trang 375
  2. ^ Thuật Mưu quyền, Quang Thiệu, Quang Ninh, Nhà xuất bản Lao Động và Xã hộ năm 2006, trang 125
  3. ^ Kha Xuân Kiều, Hà Nhân Học, Sđd, trang 97
  4. ^ Nay thuộc miền Nam Tứ Xuyên và miền Đông Vân Nam và miền Tây Bắc Quý Châu
  5. ^ Nay thuộc Tấn Ninh, Vân Nam
  6. ^ Kha Xuân Kiều, Hà Nhân Học, Sđd, trang 97-98
  7. ^ Kha Xuân Kiều, Hà Nhân Học, Sđd, trang 98
  8. ^ Kha Xuân Kiều, Hà Nhân Học, Sđd, trang 98-99
  9. ^ a ă Kha Xuân Kiều, Hà Nhân Học, Sđd, trang 99
  10. ^ Nay là huyện Tất Tiết, tỉnh Quý Châu
  11. ^ Nay thuộc Bình Sơn, Tứ Xuyên
  12. ^ a ă â b Kha Xuân Kiều, Hà Nhân Học, Sđd, trang 100
  13. ^ a ă Kha Xuân Kiều, Hà Nhân Học, Sđd, trang 101