Chiến dịch Sa mạc Tây
|
||||||||||||||||||||||||||||
|
|
|||||
|
|||||
Chiến dịch Sa mạc Tây, hay còn có tên gọi cuộc Chiến tranh Sa mạc, là giai đoạn đầu của Mặt trận Bắc Phi thuộc Chiến tranh thế giới thứ hai. Kết quả thắng bại trong quá trình diễn biến chiến dịch này chủ yếu được định đoạt từ khả năng tiếp tế và vận chuyển của các bên tham chiến. Việc quân Đồng Minh sở hữu căn cứ trên đảo Malta nên có khả năng chặn đánh các đoàn tàu hàng của phe Trục trên Địa Trung Hải đã đóng vai trò quan trọng đến diễn biến chiến sự, giúp ngăn cản nguồn nhiên liệu và tiếp viện mà tư lệnh Đức Erwin Rommel rất cần đến trong những thời điểm hệ trọng. Đến đầu năm 1942, Không lực Lục quân Hoa Kỳ bắt đầu cho xây dựng một lực lượng máy bay ném bom (cuối năm đó bổ sung thêm thành phần tiêm kích) để hỗ trợ cho chiến dịch, gọi là Chiến dịch Ai Cập-Libya.
Ngay từ đầu, Chiến dịch Sa mạc Tây đã là một cuộc chiến bao gồm những hoạt động tiến và lùi diễn ra liên tục. Tháng 9 năm 1940, chiến dịch tấn công đầu tiên, cuộc xâm chiếm Ai Cập do quân đội phát xít Ý đóng tại Libya mở đầu, nhằm vào các lực lượng Anh và Khối Thịnh vượng chung tại Ai Cập. Cuộc tấn công này đã bị chặn đứng, và đến tháng 12 năm đó, người Anh phản công. Đòn phản công ban đầu chỉ là cuộc đột kích trong 5 ngày đã phát triển thành một chiến dịch lớn mang tên Chiến dịch Compass, gây nên thiệt hại nặng nề cho quân Ý. Đức Quốc xã đã điều động lục quân và không quân đến để cứu người Ý khỏi bị sụp đổ hoàn toàn, và từ đó Đức trở thành đồng minh cấp trên của Ý.
Các lực lượng phe Trục đã hai lần mở những đòn công kích quy mô ngày càng lớn vào quân Đồng Minh. Cả hai lần, phe Trục đều đã đẩy được đối phương trở lại Ai Cập, nhưng cuối cùng Đồng Minh vẫn giành lại được những lãnh thổ bị mất. Trong cuộc tấn công thứ hai và cũng là cuối cùng của phe Trục, quân Đồng Minh bị đẩy lùi sâu vào lãnh thổ Ai Cập, nhưng đã hồi phục lại được tại El Alamein và sau đó đánh bật các lực lượng phe Trục về phía tây, ra khỏi Libya đến tận Tunisia. Đến lúc đó thì "Chiến dịch Sa mạc Tây" cũng hoàn toàn kết thúc. Tập đoàn quân số 8 Anh và quân của Rommel tiếp tục tham gia "Chiến dịch Tunisia" vốn đã bắt đầu từ trước đó vào tháng 11 năm 1942.
Mục lục |
Tình hình trước cuộc chiến [sửa]
Người Anh đã có quân đóng tại Ai Cập kể từ năm 1882, nhưng từ sau khi hiệp ước Anh-Ai Cập được ký kết năm 1936 thì số quân này đã bị giảm đi rất nhiều. Lực lượng tương đối khiêm tốn của Anh và Khối Thịnh vượng chung hiện có ở Ai Cập chủ yếu là để bảo vệ kênh đào Suez, con kênh có vai trò vô cùng quan trọng đối với mối liên lạc giữa nước Anh và các thuộc địa của nó ở Viễn Đông và Ấn Độ Dương.
Tuy nhiên, từ năm 1938, các lực lượng Anh tại Ai Cập đã có "Lực lượng Lưu động Ai Cập" do thiếu tướng Percy Hobart chỉ huy. Đây là một trong 2 đội hình thiết giáp huấn luyện duy nhất của Anh vào thời đó. Khi chiến tranh bùng nổ, lực lượng này được đổi tên thành "Sư đoàn Thiết giáp Ai Cập" và cuối cùng trở thành Sư đoàn Thiết giáp số 7 của Anh. Sư đoàn này sau còn có cái tên không chính thức là "Chuột cống Sa mạc", là đội quân chủ yếu phòng thủ tại biên giới Ai Cập-Libya trong giai đoạn đầu chiến tranh.
Tháng 6 năm 1939, trung tướng Henry Maitland "Jumbo" Wilson đã đến Cairo để làm Đại tướng Tư lệnh (GOC) các đội quân Anh tại Ai Cập và được giao chỉ huy các lực lượng Anh cùng Khối Thịnh vượng chung phòng thủ tại quốc gia này. Đến cuối tháng 7, trung tướng Archibald Wavell được bổ nhiệm chức đại tướng địa phương và phái đến Cairo làm Đại tướng Tổng Tư lệnh (GOC-in-C) của Bộ tư lệnh Trung Đông mới thành lập, chịu trách nhiệm toàn bộ vùng Chiến trường Địa Trung Hải và Trung Đông. Bộ tư lệnh này có quyền kiểm soát hoạt động của toàn bộ lực lượng trên bộ ở Ai Cập, Sudan, Palestine, Transjordan và Síp.[1] Tuy nhiên, khi chiến tranh leo thang, quyền hạn của nó lan rộng ra cả các lực lượng trên bộ do Anh chỉ huy tại đông và bắc châu Phi, Aden, Iraq và bờ biển vịnh Ba Tư và Hy Lạp. Ngày 17 tháng 6 năm 1940, quân của Wilson đã tiến sát Libya dưới quyền chỉ huy của thiếu tướng Richard O'Connor và đại bản doanh Sư đoàn Bộ binh số 6 của ông ta được đặt tên lại là Lực lượng Sa mạc Tây. O'Connor được thăng cấp trung tướng vào tháng 10 khi bộ chỉ huy của ông được tăng cường và mở rộng.
Libya đã trở thành một thuộc địa của Ý kể từ khi Quân đội Hoàng gia Ý (Regio Esercito) đánh bại quân đội của Đế quốc Ottoman năm 1912 trong chiến tranh Ý-Thổ Nhĩ Kỳ. Do vùng này nằm kẹp giữa Bắc Phi thuộc Pháp và Ai Cập, người Ý đã chuẩn bị cho một cuộc chiến trên cả hai mặt trận.
Vào thời điểm Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, Ý có hai tập đoàn quân (số 5 và số 10) tại Libya. Cả hai đều nằm dưới quyền chỉ huy chung của tổng tư lệnh vùng Bắc Phi thuộc Ý và cũng là toàn quyền Libya thuộc Ý, vị thống chế không quân uy tín Italo Balbo. Tập đoàn quân 5, với 9 sư đoàn bộ binh tại Tripolitania, do đại tướng Italo Gariboldi làm tư lệnh. Tập đoàn quân 10 tại Cyrenaica do đại tướng Mario Berti chỉ huy với 5 sư đoàn bộ binh. Đến cuối tháng 6 năm 1940, Tập đoàn quân số 10 là lực lượng chủ lực đóng trên biên giới với Ai Cập. Xét một cách toàn diện, Lục quân (Regio Esercito) và Không quân (Regia Aeronautica) của Ý tại Libya áp đảo mạnh quân Anh ở Ai Cập. Tuy nhiên, người Anh lại có ưu thế về chất lượng quân đội tốt hơn.
Theo Thủ tướng Anh Winston Churchill, có khoảng 215.000 quân Ý tại Libya đối mặt với xấp xỉ 50.000 quân Anh tại Ai Cập. Người Anh ước tính về bộ binh, phía Ý có 6 sư đoàn "chính quốc" và 2 sư đoàn "dân quân" ở Tripolitania, 2 sư đoàn "chính quốc" và 2 sư đoàn "dân quân" tại Cyrenaica, và còn có 3 sư đoàn "biên giới". Để đối phó với lực lượng này, phía Anh có Sư đoàn Thiết giáp số 7, 2/3 Sư đoàn Bộ binh Ấn Độ số 4, 1/3 Sư đoàn New Zealand (sau trở thành sư đoàn New Zealand số 2), 14 tiểu đoàn Anh, và 2 trung đoàn Pháo binh Hoàng gia.[2]
Diễn biến [sửa]
Những cuộc đột kích ban đầu [sửa]
Những "lực lượng yểm hộ" ban đầu mà người Anh triển khai dọc biên giới Ai Cập, tuy nhỏ nhưng có khả năng chiến đấu hiệu quả. Nó bao gồm xe tăng hạng nhẹ thuộc Trung đoàn Kỵ binh Hussar số 7, xe thiết giáp của Trung đoàn Kỵ binh Hussar số 11, 2 tiểu đoàn mô tô thuộc Trung đoàn Bộ binh Súng trường số 60 và Lữ đoàn Súng trường, cùng 2 trung đoàn Kỵ Pháo binh Hoàng gia Anh được cơ giới hóa.[3]
Ngày 11 tháng 6 năm 1940, một ngày sau khi Ý tuyên chiến với phe Đồng Minh, các lực lượng Ý tại Libya là lực lượng Anh cùng Khối Thịnh vượng chung ở Ai Cập đã mở một loạt những cuộc đột kích vào nhau. Trong số đó, đáng chú ý có cuộc tấn công của Trung đoàn Kỵ binh Hussar số 11 xảy ra trong vòng 24 tiếng đồng hồ sau khi Ý tuyên chiến. Xe thiết giáp vượt biên giới tiến vào Libya và bắt giữ nhiều người Ý mà dường như còn chưa biết là chiến tranh đã bắt đầu.[3] Ngày 12 tháng 6, thêm 63 người Ý bị bắt làm tù binh tỏng một cuộc đột kích khác.
Ngày 14 tháng 6, các trung đoàn kỵ binh Hussar số 11 và số 7 cùng với một đại đội thuộc Trung đoàn Bộ binh Súng trường số 60 đánh chiếm pháo đài Capuzzo và pháo đài Maddalena đồng thời bắt thêm 220 tù binh Ý. Ngày 16 tháng 6, một cuộc đột kích chiều sâu vào trong lãnh thổ Libya đã phá hủy 12 xe tăng Ý. Ngoài ra, một đoàn xe hộ tống đã bị chặn đánh trên con đường quốc lộ nối giữa Tobruk-Bardia, một phần của tuyến đường Quốc lộ Duyên hải Libya (Via Balbia), trong vụ này có một viên tướng Ý đã bị bắt sống.[4]
Đến ngày 25 tháng 6, Pháp ký hiệp định đình chiến với Ý, chính thức đầu hàng phe Trục. Nhờ đó, binh lính và trang bị của Tập đoàn quân số 5 Ý (đóng tại Tripolitania đối diện quân Pháp ở Tunisia) được điều bớt sang tăng cường cho Tập đoàn quân 10. Tập đoàn quân 5 chỉ còn lại 4 sư đoàn, trong khi Tập đoàn quân 10 được phát triển lên đến 10 sư đoàn. Đến giữa tháng 7, quân Ý đã phát triển lực lượng tại biên giới Ai Cập trở thành một đội quân gồm 2 sư đoàn bộ binh đầy đủ và các thành phần của hai sư đoàn khác nữa.[4]
Ngày 28 tháng 6, Thống chế Balbo bị giết chết trong một tai nạn nhầm lẫn khi đang đổ bộ tại Tobruk. Máy bay của ông đã bị hỏa lực phòng không của quân Ý bắn nhầm do hạ cánh ngay sau một cuộc không kích của Anh. Thay thế chức vụ tổng tư lệnh và toàn quyền của Balbo là thống chế Rodolfo Graziani.
Ngày 5 tháng 8, chiến sự nổ ra tại khu vực nằm giữa sân bay Sidi Azeiz và pháo đài Capuzzo, tuy lớn nhưng bất phân thắng bại. 30 xe tăng hạng trung M11/39 Ý đã chạm trán với Trung đoàn Kỵ binh Hussar số 8 khi họ cố gắng thiết lập lại quyền kiểm soát của Ý khu vực này. Tướng Wavell kết luận rằng ông còn chưa đủ điều kiện để ngăn chặn người Ý.
Tình trạng hao mòn và hỏng hóc của các xe cộ thiết giáp thuộc Sư đoàn Thiết giáp số 7 Anh lúc này đang gia tăng đến mức khủng hoảng, đòi hỏi cần phải có những phân xưởng sửa chữa. Đứng trước tình hình chỉ có trung bình một nửa số xe tăng có thể sẵn sàng chiến đấu và nhận ra rằng một lực lượng hữu hiệu của mình đã kiệt sức mà chẳng có mục đích chiến lược nào, Wavell liền hạn chế việc mở rộng chiến sự và bàn giao việc phòng thủ biên giới cho Cụm Yểm trợ số 7 của lữ đoàn trưởng William Gott và Trung đoàn Kỵ binh Hussar số 11 của trung tá John Combe. Các đơn vị này sẽ trở thành một tấm bình phong làm từ nhiều tiền đồn nhằm cảnh báo bất cứ nỗ lực tiếp cận nào của Ý.[5]
Tính đến ngày 13 tháng 8, theo những diễn biến trong giai đoạn chiến sự ban đầu, bảng thống kê tương quan nghiêng về phía có lợi cho phía Anh. Họ kiểm soát sa mạc và áp đảo được quân Ý. Những thất bại ban đầu đã khiến cho người Ý mất tinh thần, và họ cảm thấy như không có chỗ nào là an toàn, thậm chí là cả ở những tuyến phòng thủ nằm tĩnh sâu bên trong lãnh thổ của Ý kiểm soát. Có thể trừ ra một số ít các đơn vị như Đại đội Ô tô Sahara (La Compania Auto-Avio-Sahariana), thì quân Ý không hề được an toàn trên sa mạc trống trải, nơi mà nói chung họ bị tách rời ra khỏi đơn vị của mình. Trong vòng 2 tháng chiến đấu trên sa mạc, quân Ý mất khoảng 3.000 người trong khi tổn thất của Anh không đến 100.[4][6][Gc 1]
Trong suốt thời gian còn lại của tháng 8 và những ngày đầu tháng 9, sa mạc trở nên yên tĩnh một cách không hề thoái mái. Sự yên tĩnh này chỉ bị phá vỡ bởi những cuộc chạm trán bất ngờ của quân tuần tra và những trận không chiến lẻ tẻ khi cả hai bên thăm dò ý định của bên kia. Trong khi một mạng lưới gián điệp ghê gớm tại Ai Cập (Servizio Informazioni Militare) bảo vệ bí mật của phe Ý, thì người Anh chọn những cách khác để có được thông tin. Đơn vị tình báo Cụm Sa mạc Tầm xa được thiết lập dưới quyền chỉ huy của thiếu tá Ralph A. Bagnold, và chẳng mấy chốc những cuộc chuyển quân của Ý ở xa phía sau phòng tuyến đã được báo cáo về cho phía Anh qua đường radio Skywave.[6]
Người Ý tấn công [sửa]
Benito Mussolini rất mong muốn được nối liền khu vực Bắc Phi thuộc Ý (Africa Settentrionale Italiana) với Đông Phi thuộc Ý (Africa Orientale Italiana) và hy vọng có thể chiếm được kênh đào Suez cũng như những mỏ dầu Ả Rập. Ngày 8 tháng 8 năm 1940, ông ta đã ra lệnh cho quân đội Ý xâm chiếm Ai Cập.
Ngày 9 tháng 9, các lực lượng Ý dưới quyền tổng chỉ huy của thống chế Rodolfo Graziani đã xuất phát từ căn cứ tại Cyrenaica tấn công Ai Cập. Họ đã chiếm được Sollum, đèo Halfaya và Sidi Barrani. Nhưng đến ngày 16 tháng 9, Graziani ngừng tiến quân với lý do đưa ra là gặp vấn đề về tiếp tế. Mặc dù Mussolini hối thúc Graziani tiếp tục tấn công, quân Ý vẫn đào hào xung quanh Sidi Barrani và lập nhiều doanh trại kiên cố.
Nơi Graziani dừng lại cách các vị trí phòng thủ của Anh tại Mersa Matruh 130 km về phía tây. Ông ta đã lên kế hoạch mở lại chiến dịch sau khi quân đội đã được tái tiếp tế. Do Mussolini không ngừng hối thúc Graziani, nên cuộc tiến công của Ý vào Mersa Matruh được dự kiến sẽ bắt đầu vào giữa tháng 12.
Trước tình hình này, Ai Cập chấm dứt quan hệ với Đức và Ý.[8] Ngày 19 tháng 10, máy bay Ý đã ném bom xuống Ma'adi, một khu ngoại ô của Cairo, nơi có nhiều người châu Âu sinh sống.[9]
Người Anh tấn công [sửa]
Ngày 9 tháng 12 năm 1940, Lực lượng Sa mạc Tây (bao gồm các bộ phận của Sư đoàn Bộ binh số 4 Ấn Độ và Sư đoàn Thiết giáp số 7 của Anh) đã mở Chiến dịch Compass, một cuộc phản công mà người Ý hoàn toàn không phòng bị. Đến ngày 10 tháng 12, các lực lượng quân Anh và Ấn Độ đã bắt được hơn 20.000 tù binh Ý. Hôm sau, họ tấn công Sollum với sự yểm trợ của tàu chiến thuộc Hạm đội Địa Trung Hải. Sidi Barrani thất thủ trong ngày hôm đó.
Sau đó, Wavell đã khiến O'Connor phải bất ngờ khi chuyển Sư đoàn Bộ binh 4 nhiều kinh nghiệm trận mạc của Ấn Độ sang Mặt trận Trung Đông và thay thế nó bằng Sư đoàn số 6 Úc mới đến. Quân Úc sau đó dồn dập tấn công chiếm được Bardia và Tobruk, bắt giữ 67.000 tù binh, hơn 500 pháo mà chỉ mất có 180 người chết. Đến đầu tháng 2, quân Ý vội vàng rút lui dọc theo bờ biển và bị quân Úc truy kích.
O'Connor đã ra lệnh cho Sư đoàn Thiết giáp số 7 tiến theo đường bộ qua Mechili để đến Beda Fomm và cắt đứt đường rút lui của quân Ý. Thiếu tướng Michael O'Moore Creagh phái Lực lượng Combe — 1 đơn vị cơ động tình thế — tiến nhanh ra trước số tăng này. Lực lượng Combe đã tiến đến Beda Fomm ngay trước quân Ý và thiết lập một rào cản. Sau một trận chiến khó khăn diễn ra ngày 6 tháng 2, quân Ý không thể đột phá qua trận tuyến của lực lượng Combe và bị tấn công cả bên sườn lẫn sau lưng, cuối cùng đã phải đầu hàng với 25.000 quân, 200 khẩu pháo, 100 xe tăng và 1.500 xe cộ các loại.
Trong chiến dịch mau lẹ này, phía Anh bắt được 130.000 quân Ý mà chỉ chịu thương vong có 2.000 người. Suốt giai đoạn đó, người Ý tưởng rằng mình bị áp đảo mạnh về quân số, trong khi thực tế là ngược lại. Bộ trưởng ngoại giao Anh Anthony Eden đã nói đùa rằng "Chưa bao giờ có rất nhiều người đầu hàng rất nhiều trước rất ít người như thế" (Never has so much been surrendered by so many to so few, nhại theo câu nói nổi tiếng so much owed by so many to so few của Winston Churchill). Các lực lượng Ý còn lại rút chạy về El Agheila vào ngày 9 tháng 2 năm 1941.
Trong giai đoạn này của cuộc chiến, Lực lượng Sa mạc Tây đã được đổi tên thành Quân đoàn XIII của Anh.
Cuộc tấn công thứ nhất của Rommel [sửa]
Đầu năm 1941, sau thắng lợi quyết định của Anh và Khối Thịnh vượng chung tại Cyrenaica, hệ thống bố trí quân sự của họ đã sớm bị đảo lộn. Wavell ra lệnh cho một bộ phận đáng kể Quân đoàn XIII của O'Connor đến hỗ trợ Hy Lạp trong Chiến dịch Lustre. Khi Wavell giảm bớt lực lượng của mình tại Bắc Phi thì nhà độc tài Đức Adolf Hitler, trước thảm họa của nước Ý đồng minh, đã ra lệnh mở Chiến dịch Sonnenblume ("Hoa hướng dương"), triển khai Quân đoàn châu Phi (Deutsches Afrikakorps) mới thành lập làm lực lượng tăng viện cho quân Ý để cứu họ khỏi sụp đổ hoàn toàn. Quân đoàn này của Đức bao gồm những đội quân đầy sức sống được trang bị tốt hơn và một viên tư lệnh đầy uy tín, tướng Erwin Rommel.
Khi Rommel đến Bắc Phi, ông ra lệnh giả vờ giữ thế phòng ngự và giữ vững trận tuyến. Nhận thấy rằng lực lượng phòng thủ của Anh đang mỏng, ông liền nhanh chóng đánh bại lực lượng Đồng Minh tại El Agheila vào ngày 24 tháng 3. Sau đó ông mở một chiến dịch tấn công và đến 15 tháng 4 đã đẩy được quân Anh lùi về biên giới tại Sollum, chiếm lại toàn bộ lãnh thổ Libya ngoại trừ Tobruk. Thành phố này, dưới quyền chỉ huy của tướng Úc Leslie Morshead, sau đó đã bị bao vây và phong tỏa. Trong cuộc tiến quân này, lần lượt ba người: trung tướng Philip Neame, tư lệnh chiến trường mới của Tổng hành dinh Bộ chỉ huy Cyrenaica (tên mới đổi của Quân đoàn XIII); Richard O'Connor, mới được triệu về để hỗ trợ; và thiếu tướng Michael Gambier-Parry, tư lệnh Sư đoàn Thiết giáp số 2 Anh đã bị Đức bắt sống. Không có Neame và O'Connor, các lực lượng Anh và Khối Thịnh vượng chung một lần nữa được sắp xếp dưới quyền Tổng hành dinh Lực lượng Sa mạc Tây tái hoạt động. Quyền tư lệnh thuộc về trung tướng Noel Beresford-Peirse, người đã trở lại Cairo khi đang chỉ huy Sư đoàn Bộ binh số 4 Ấn Độ tại Mặt trận Trung Đông.
Chiến dịch tấn công đầu tiên của Rommel về cơ bản là thành công và lực lượng của ông đã tiêu diệt Sư đoàn Thiết giáp số 2 Anh. Tuy nhiên, nhiều nỗ lực của Đức nhằm đánh chiếm vị trí cô lập tại Tobruk đã thất bại và trận tuyến được ổn định lại trên biên giới Ai Cập.
Cuộc vây hãm Tobruk [sửa]
Quân Đức và Ý đã vây hãm các lực lượng Anh và Khối Thịnh vượng chung tại Tobruk trong một cuộc đối đầu dai dẳng kéo dài 240 ngày đêm.
Lực lượng Sa mạc Tây đã mở Chiến dịch Brevity vào tháng 5 năm 1941 nhằm giành thêm nhiều đất đai để tạo điền kiện triển khai hoạt động chính là nhằm giải vây cho Tobruk, kết thúc bất phân thắng bại. Chiến dịch Battleaxe cũng được mở trong tháng 6. Sau thất bại của Battleaxe, Claude Auchinleck đã được đưa lên thay thế chức vụ Tổng tư lệnh Trung Đông của Wavell và các quân Anh được tăng cường thêm Quân đoàn XXX.
Bộ chỉ huy chiến trường chung của Đồng Minh bây giờ là Tập đoàn quân số 8 Anh, được tạo thành từ những đơn vị của nhiều quốc gia khác nhau, bao gồm Sư đoàn số 9 và Lưc đoàn số 18 của Lục quân Úc và Lục quân Ấn Độ, ngoài ra còn có các sư đoàn của Nam Phi, New Zealand, 1 lữ đoàn Lực lượng Pháp tự do của tướng Marie-Pierre Koenig và Lưc đoàn Súng trường Độc lập Carpath Ba Lan.
Chiến dịch Crusader [sửa]
Tập đoàn quân số 8 Anh, dưới quyền chỉ huy của trung tướng Alan Cunningham, đã mở màn Chiến dịch Crusader vào ngày 18 tháng 11 năm 1941. Mặc dù Quân đoàn châu Phi đã giành được nhiều thắng lợi chiến thuật, thậm chí còn gây nên bất đồng giữa một số tướng lĩnh tư lệnh lục quân Anh và dẫn đến việc Auchinleck thay thế Cunningham bằng thiếu tướng Neil Ritchie, nhưng cuối cùng quân Đức vẫn buộc phải rút lui và toàn bộ lãnh thổ mà Rommel chiếm được trong hai tháng 3 và 4 đã lại bị mất, ngoại trừ lực lượng đồn trú tại Bardia và Sollum. Quan trọng nhất là vòng vây xung quanh Tobruk của phe Trục đã bị phá vỡ. Một lần nữa, trận tuyến lại được đặt tại El Agheila.
Cuộc tấn công thứ hai của Rommel [sửa]
Sau sự kiện Hải quân Đế quốc Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng vào ngày 7 tháng 12 năm 1941, các lực lượng Úc đã rút khỏi Sa mạc Tây để chuyển đến mặt trận Thái Bình Dương, còn Lữ đoàn Thiết giáp số 7 của Anh cũng được chuyển đến Miến Điện.
Sư đoàn Thiết giáp số 1 Anh còn tương đối thiếu kinh nghiệm đã trở thành lực lượng phòng thủ chính đóng quanh El Agheila. Lực lượng thiết giáp của nó cũng bị dàn trải giống như các đơn vị nhiều kinh nghiệm khác hoạt động từ đầu chiến dịch. Ngày 21 tháng 1, Quân đoàn châu Phi của Rommel tấn công các đơn vị phân tán thuộc Sư đoàn Thiết giáp số 1. Lữ đoàn Thiết giáp số 2 Anh cũng bị tấn công từng bộ phận và dễ dàng bại trận trước các lực lượng tập trung của Rommel. Cả 2 đơn vị này đều buộc phải lui qua tuyến Cyrenaica để rút về miền đông Libya, cùng với Lữ đoàn Mô tô Cận vệ 201, bỏ lại các thành phố Msus và Benghazi rơi vào tay quân Đức.[10]
Từ tháng 2 đến tháng 5 năm 1942, trận tuyến nằm tại Gazala, ngay phía tây Tobruk, tại đó quân đội cả hai bên đều chuẩn bị tấn công.
Rommel đã ra tay trước vào tháng 6 năm 1942. Sau một cuộc chiến thiết giáp kéo dài mang tên gọi "cái Vạc", ông đã đánh bại quân Đồng Minh trong trận Gazala và chiếm được Tobruk. Auchinleck liền sa thải Ritchie để tự mình cầm quyền chỉ huy Tập đoàn quân số 8 Anh và sau đó chặn được đà tiến của Rommel tại tuyến Alamein, chỉ còn cách Alexandria 70 dặm trong trận El Alamein thứ nhất.
Chiến dịch tấn công của Montgomery [sửa]
Bất chấp hoàn cảnh, Churchill vẫn trở nên thất vọng về Auchinleck. Ông ta liền bị thay thế, đại tướng Harold Alexander lên làm Tổng tư lệnh Bộ tư lệnh Trung Đông còn trung tướng Bernard Montgomery trở thành tư lệnh của Tập đoàn quân số 8. Như vậy, viên tư lệnh tập đoàn quân mới sẽ được miễn trách nhiệm về khu vực kéo dài từ Síp đến Sudan và về phía đông tới Syria. Alexander cũng là một tấm đệm hiệu quả để chống lại những can thiệp chính trị từ London.
Montgomery đã giành được một thắng lợi phòng ngự toàn diện trong Trận Alam el Halfa vào tháng 8 năm 1942 và sau đó liền cho xây dựng các lực lượng Đồng Minh trước khi tiếp tục chiến dịch tấn công trong Trận El Alamein thứ hai trong tháng 10 và 11. Điều đáng chú ý là ông có những nguồn lực vượt xa về số lượng và chất lượng so với những người tiền nhiệm của mình. Trận El Alamein thứ hai đã trở thành chiến thắng quyết định. Bất chấp hoạt động chặn hậu xuất sắc của Rommel, quân Đồng Minh vẫn chiếm lại được Ai Cập và sau đó tiến quân qua Cyrenaica và Tripolitania, đánh chiếm Tripoli vào tháng 2 năm 1943 rồi tiến vào Tunisia trong tháng 3.
Một nỗ lực nhằm bao vây lực lượng phe Trục tại Marsa Matruh đã bị mưa phá hỏng và họ chạy thoát vào ngày 7 tháng 11. Tuyến đường trên bờ biển bị cắt đứt, nhưng đèo Halfaya dẽ dàng bị chiếm và Ai Cập hoàn toàn sạch bóng quân Trục. Tobruk được giải phóng ngày 13 tháng 11, quân của Rommel một lần nữa lại chạy thoát, và đến ngày 20 tháng 11 đến lượt Benghazi. Hai thị trấn cảng này rất cần thiết cho việc tái tiếp tế cho chiến dịch và cơ hội để đánh bọc sườn Rommel tại Ajdabiya đã được hủy bỏ một cách thận trọng, trong trường hợp bị phản công.
Quân Đức và Ý lui về phòng tuyến được chuẩn bị trước tại El Agheila. Đồ tiếp tế và tăng viện của phe Trục giờ đây được gửi qua Tunisia chứ không trực tiếp cho Rommel: ông bị bỏ mặc không có khả năng phản công và thiếu nhiên liệu trầm trọng. Hitler đã ra lệnh là tuyến El Agheila phải đứng vững bằng mọi giá, trong khi quân điểm của Rommel là phải vừa đánh vừa rút về Tunisia và thiếp lập hệ thống phòng ngự mạnh tại lối Gabès. Quân Đức được phép rút về Buerat, cách Sirte 80 km về phía đông. Nỗ lực bọc đánh El Agheila trong các ngày 14 và 16 tháng 12 lại một lần nữa thất bại không thể vao vây quân địch – Rommel đã dùng thẩm quyền của mình để cho rút lui và tuyến đường rút của ông ta được bảo vệ đấy đủ.
Trong giai đoạn này, mặt trận kéo dài 640 km tính từ bến cảng khả dụng gần nhất ở Tobruk và những khó khăn trong tiếp tế đã cản trở không cho Montgomery triển khai toàn bộ lực lượng cua mình. Áp lực của Đồng Minh tiếp tục khi quân Trục tiến đến Buerat. Tuy nhiên, phòng tuyến này không được bảo vệ mạnh, và cuộc truy kích vẫn tiếp tục. Tripoli thất thủ ngày 23 tháng 1 năm 1943. Bến cảng này liền được sử dụng và đến giữa tháng 2 năm 1943, hàng ngày có gần 2.700 tấn hàng đổ bộ xuống.
Cuộc rút lui của Rommel vẫn tiếp tục, bất chấp người Ý không đồng tình. Ngày 4 tháng 2, các đơn vị Đồng Minh tiến vào Tunisia. Ngay sai đó, Rommel bị triệu hồi về Đức vì lý do sức khỏe.
Montgomery đã bị chỉ trích vì không nắm bắt được tình hình để giăng bẫy các tập đoàn quân phe Trục, nhằm đánh một trận quyết định và tiêu diệt họ ngay tại Libya. Chiến thuật của ông bị xem là quá thận trọng và chậm trễ. Tuy nhiên, những luận bênh vực ông đã chỉ ra khả năng phòng thủ của quân Đức nói chung và của Quân đoàn châu Phi nói riêng, và rằng Montgomery cần phải tránh để không lặp lại một cuộc chiến theo kiểu "bập bênh" giống như trước đó ở mặt trận Bắc Phi nữa. Chiến sự ở vùng sa mạc này đã được xem như một "cơn ác mộng của sĩ quan hậu cần", do điều kiện của chiến tranh trên sa mạc và những khó khăn trong việc tiếp tế. Montgomery nổi danh vì đã tiến hành những "chiến dịch cân nhắc" và tiết kiệm nguồn lực của mình: không tấn công chừng nào quân còn chưa được chuẩn bị và tiếp tế hợp lý. Dưới sự chỉ huy của ông, sĩ khí của Tập đoàn quân số 8 được cải thiện đáng kể.
Kết cục [sửa]
Quân đội phe Trục bị đẩy lui ra khỏi Libya, và ngay sau đó họ đã bị đánh kẹp lại tại Tunisia từ hai phía: các lực lượng Anh-Mỹ mới đổ bộ lên Bắc Phi trong Chiến dịch Bó đuốc tiến đến từ phía tây, và Tập đoàn quân số 8 của Anh đang truy kích từ phía đông.
Chú thích [sửa]
- ^ Cả Macksey và Churchill đều nhất trí rằng con số đó tính từ các hoạt động từ ngày 10 tháng 6 năm 1940 cho đến một thời điểm nào đó của tháng 8. Tuy nhiên, theo tướng Wavell, con số thương vong cho thấy tại đây là tính cả trong chiến dịch Ý xâm chiếm Ai Cập và là giai đoạn từ ngày 10 tháng 6 đến giữa tháng 9.[7]
Ghi chú [sửa]
- ^ Playfair, trang 32.
- ^ Churchill, Their Finest Hour, trang 370
- ^ a b Churchill, Their Finest Hour, tr. 371
- ^ a b c Churchill, Their Finest Hour, tr. 372
- ^ Macksey, tr. 38
- ^ a b Macksey, tr. 33
- ^ Wavell, tr. 3002
- ^ Playfair
- ^ MacGregor, tr. 229
- ^ "British 7th Armoured, List of Battles, 1942"[liên kết hỏng]
Thư mục [sửa]
- Alanbrooke, Field Marshal Lord; Danchev, Alex and Todman, Daniel (editors) (2002) [1957]. War Diaries 1939–1945 . London: Phoenix Press. ISBN 1-84212-526-5.
- Bauer, Eddy; Young, Peter (general editor) (2000) [1979]. The History of World War II . London, UK: Orbis Publishing. ISBN 1-85605-552-3.
- Bierman, John; Smith, Colin (2003) [2002]. War without hate: the desert campaign of 1940–1943 . New York: Penguin Books. ISBN 978-0-14-200394-7.
- Bierman, John; Smith, Colin (2002). The Battle of Alamein: Turning Point, World War II. New York: Viking. ISBN 978-0-670-03040-8.
- Barr, Niall (2005) [2004]. Pendulum of War: The Three Battles of El Alamein. Woodstock, NY: Overlook Press. ISBN 978-1-58567-738-2.
- Carver, Field Marshal Lord (2000) [1962]. El Alamein . Ware, Herts. UK: Wordsworth Editions. ISBN 978-1-84022-220-3.
- Carver, Field Marshal Lord (1964). Tobruk. Pan Books. ISBN 0-330-23376-9.
- Christie, Howard R. (7 August 98-2 June 99). Fallen Eagles: The Italian 10th Army in the Opening Campaign in the Western Desert, June 1940 – December 1940 (Master's thesis). Report Number: A116763.
- Churchill, Winston S. (1986) [1949]. The Second World War, Volume II, Their Finest Hour. Boston: Houghton Mifflin Company. ISBN 0-395-41056-8.
- Churchill, Winston S. (1985) [1950]. The Second World War, Volume III, The Grand Alliance. Boston: Houghton Mifflin Company. ISBN 0-395-41057-6.
- Churchill, Winston S.; Gilbert, Martin (1993). The Churchill War Papers. London: W. W. Norton & Company. ISBN 0-393-01959-4.
- Clifford, Alexander (1943). Three against Rommel. London: George G. Harrap.
- Dear, I. C. B. (ed) (2005) [1995]. The Oxford Companion to World War II. Oxford University Press. ISBN 978-0-19-280666-6.
- Long, Gavin (1961) [1952]. Official History of Australia in the Second World War Volume I – To Benghazi. Series 1 – Army. Canberra: Australian War Memorial.
- Harrison, Frank (1999) [1996]. Tobruk: The Great Siege Reassessed. Brockhampton Press. ISBN 1-86019-986-0.
- Jentz, Thomas L. (1996). Panzer Truppen: The Complete Guide to the Creation & Combat Employment of Germany's Tank Force 1933–1942: Volume 1. Schiffer Publishing. ISBN 0-88740-915-6.
- Jentz, Thomas L. (1998). Tank Combat in North Africa: The Opening Rounds. Schiffer Publishing. ISBN 0-7643-0226-4.
- Latimer, Jon (2002). Alamein. London: John Murray. ISBN 978-0-7195-6203-7.
- Latimer, Jon (2000). Operation Compass 1940: Wavell's Whirlwind Offensive. Oxford: Osprey.
- Latimer, Jon (2004). Tobruk 1941: Rommel's Opening Move. Greenwood Press. ISBN 0-275-98287-4.
- Lucas-Phillips, C.E. (1962). Alamein. London: Heinemann. OCLC 3510044.
- MacGregor, Andrew (2006) [2006]. A military history of modern Egypt: from the Ottoman Conquest to the Ramadan War. Praeger Security International General Iterest. ISBN 0-275-98601-2.
- Macksey, Major Kenneth. Beda Fomm: Classic Victory. Ballentine's Illustrated History of the Violent Century, Battle Book Number 22. Ballantine Books.
- Maughan, Barton (1966). Official History of Australia in the Second World War Volume III – Tobruk and El Alamein. Series 1 – Army. Canberra: Australian War Memorial.
- Mead, Richard (2007). Churchill's Lions: A biographical guide to the key British generals of World War II. Stroud (UK): Spellmount. tr. 544 pages. ISBN 978-1-86227-431-0.
- Pitt, Barrie (December năm 1989). Crucible of War: Western Desert 1941 (hardback) . Paragon House. tr. 525 pages. ISBN 978-1-55778-232-8.
- Playfair, Major-General I.S.O.; with Stitt R.N., Commander G.M.S.; Molony, Brigadier C.J.C. & Toomer, Air Vice-Marshal S.E. (2004) [1st. pub. HMSO 1954]. Trong Butler, J.R.M. The Mediterranean and Middle East, Volume I The Early Successes Against Italy (to May 1941). History of the Second World War, United Kingdom Military Series. Naval & Military Press. ISBN 1-84574-065-3.
- Playfair, Major-General I.S.O.; with Flynn R.N., Captain F.C.; Molony, Brigadier C.J.C. & Toomer, Air Vice-Marshal S.E. (2004) [1st. pub. HMSO 1956]. Trong Butler, J.R.M. The Mediterranean and Middle East, Volume II The Germans come to the help of their Ally (1941). History of the Second World War, United Kingdom Military Series. Naval & Military Press. ISBN 1-84574-066-1.
- Playfair, Major-General I.S.O.; with Flynn R.N., Captain F.C.; Molony, Brigadier C.J.C. & Gleave, Group Captain T.P. (2004) [1st. pub. HMSO 1960]. Trong Butler, J.R.M. The Mediterranean and Middle East, Volume III: British Fortunes reach their Lowest Ebb (September 1941 to September 1942). History of the Second World War United Kingdom Military Series. Naval & Military Press. ISBN 1-84574-067-X.
- Playfair, Major-General I.S.O.; and Molony, Brigadier C.J.C.; with Flynn R.N., Captain F.C. & Gleave, Group Captain T.P. (2004) [1st. pub. HMSO 1966]. Trong Butler, J.R.M. The Mediterranean and Middle East, Volume IV: The Destruction of the Axis Forces in Africa. History of the Second World War United Kingdom Military Series. Uckfield, UK: Naval & Military Press. ISBN 1-84574-068-8.
- Rommel, Erwin; Pimlott, John (1994). Rommel : in his own words. London: Greenhill Books. ISBN 978-1-85367-185-2.
- Rommel, Erwin; with Basil Liddell-Hart (1982) [1953]. The Rommel Papers. New York: Da Capo Press. ISBN 978-0-306-80157-0.
- Toppe, Generalmajor Alfred (1990) [~1947]. German Experiences in Desert Warfare During World War II, Volume II (PDF). Washington: U.S. Marine Corps (via The Black Vault). FMFRP 12-96-II. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2007. Đã định rõ hơn một tham số trong
|author=và|last=(trợ giúp) - von Mellenthin, Major General F. W. (1971) [1956]. Panzer Battles: A Study of the Employment of Armor in the Second World War . New York: Ballantine Books. ISBN 0-345-24440-0.
- Walker, Ian W. (2003). Iron hulls, iron hearts: Mussolini's elite armoured divisions in North Africa. Marlborough: Crowood. ISBN 978-1-86126-646-0.
- Walker, Ronald (1967). The Official History of New Zealand in the Second World War 1939–1945: Alam Halfa and Alamein. Wellington, NZ: Historical Publications Branch.
- Wavell, Archibald (1946). Despatch on Operations in the Middle East From August, 1939 to November, 1940. London: War Office. in London Gazette: (Supplement) số 37609, tr. 2997–3006, 13 June 1946. Truy cập 31 October 2009.
- Wavell, Archibald (1946). Despatch on Operations in the Western Desert From 7th December, 1940 to 7th February 1941. London: War Office. in London Gazette: (Supplement) số 37628, tr. 3261–3269, 26 June 1946. Truy cập 31 October 2009.
- Wavell, Archibald (1946). Despatch on Operations in the Middle East From 7th February, 1941 to 15th July 1941. London: War Office. in London Gazette: (Supplement) số 37638, tr. 3423–3444, 3 July 1946. Truy cập 31 October 2009.
Liên kết ngoài [sửa]
- “Archibald Wavell's Despatch on Operations in the Middle East From August, 1939 to November, 1940.”. Supplement to the London Gazette, Number 37609. 13 tháng 6 năm 1946. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2009.
- “Archibald Wavell's Despatch on Operations in the Western Desert From 7th December, 1940 to 7th February 1941.”. Supplement to the London Gazette, Number 37628. 26 tháng 6 năm 1946. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2009.
- “Archibald Wavell's Despatch on Operations in the Middle East From 7th February, 1941 to 15th July 1941.”. Supplement to the London Gazette, Number 37638. 3 tháng 7 năm 1946. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2009. [liên kết hỏng]
- Paterson, Ian A. (30 tháng 12 năm 1942). “History of the 7th Armoured Division: Engagements – 1942”.
- Roberts, Major-General G.P.B.; Bayerlein, Generalleutnant Fritz. Trong Basil Liddell Hart. “U.S. Combat Studies Institute Battle Report: Alam Halfa”. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2007.
- AFRIKAKORPS.org/AANA Research Group