Chiến thuật biển người

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Chiến thuật biển người là một chiến thuật quân sự mà trong đó, một bên dùng số lượng áp đảo của mình tấn công ào ạt đánh giáp lá cà, chấp nhận thương vong bởi lúc xung phong sẽ bị hoả lực của đối phương dễ dàng làm tiêu hao. Cách xung phong ào ạt, đông đảo như vậy có thể khiến đối phương sợ hãi nhưng có thể phải chịu hy sinh rất lớn. Do vậy chiến thuật này thường chỉ được áp dụng với những nước có dân số hùng hậu nhưng thiếu phương tiện cơ giới, như các quân đội trong Thế chiến thứ nhất, quân Nhật trong Thế chiến thứ hai hay Trung Quốc trong Chiến tranh Triều Tiên.

Trong 2 cuộc chiến tranh Đông Dương, nhiều người tưởng rằng Quân đội Nhân dân Việt Nam cũng sử dụng chiến thuật này. Thực ra, trên toàn chiến trường Quân đội Nhân dân Việt Nam chưa bao giờ đạt được ưu thế về quân số so với đối phương, nên chiến thuật này hầu như không được sử dụng. Thay vào đó, Quân đội Nhân dân Việt Nam phát triển những chiến thuật riêng như đặc công, chiến thuật công kiên, chiến thuật vận động chiến, chiến thuật cơ động kết hợp chốt...

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều người nghĩ rằng Chiến thuật biển người chỉ đơn giản là sử dụng quân số áp đảo rồi xung phong ào ạt tràn lên đối phương. Kì thực Chiến thuật biển người cũng là một chiến thuật, có những bài bản, quy tắc, có yêu cầu về hoả lực tỉ mỉ chứ không đơn giản chỉ xua quân xông bừa lên. Tài liệu của Hoa Kỳ tổng kết về Chiến thuật biển người được Trung Quốc áp dụng như sau:

1. Cấp sử dụng: từ tiểu đoàn đến sư đoàn tuỳ mục tiêu. Cấp thấp hơn không đủ hoả lực để sử dụng, cấp cao hơn ít khi có đất để thi triển. Như vậy ta thấy chiến thuật này có những yêu cầu rõ ràng.

2. Từ vị trí xuất phát đến cách mục tiêu 500m: đây là quãng đường mà thương vong chủ yếu do bom và pháo đối phương, bộ binh đối phương ngồi chờ trong vị trí phòng thủ nhìn thấy mà chưa bắn được, khi đó bộ binh dàn thành nhiều hàng ngang cách nhau 30 - 50m, mỗi hàng ngang đều rộng bằng hoặc hơn tuyến phòng ngự đối phương, cùng lúc pháo và súng cối bắn cấp tập và kèn trống trợ oai. Cách dàn quân như vậy hạn chế được thương vong do bom và pháo vì các hàng quân cách khá xa nhau, nếu bị bắn đúng hàng cũng chỉ tổn thất ít. Quân đối phương nhìn xa từ trong các công sự thấp sát mặt đất tưởng như các hàng quân ken đặc với nhau, cộng thêm tiếng pháo và kèn trống tạo hiệu quả khủng bố tâm lý tối đa.

3. Từ 500m đến 200m: các loại súng máy cộng đồng như đại liêntrung liên của quân phòng ngự phát huy tác dụng, thương vong lúc này chủ yếu do các ổ hoả lực đó gây ra. Đội hình lúc này biến từ nhiều hàng ngang thành nhiều hàng dọc. Thực ra việc thay đổi đội hình chỉ diễn ra ở cấp tiểu đội nên rất nhanh. Các tiểu đội đang nằm trong hàng ngang chuyển thành hàng dọc lấp đầy khoảng cách giữa các hàng ngang trước đây, người trước che cho người sau, tiểu đội trước che cho tiểu đội sau vì thế quân phòng ngự chỉ bắn được những lính đi đầu, toàn bộ phía sau vẫn được che chắn nối đuôi nhau xông lên. Khoảng cách giữa các hàng dọc cũng khá lớn nên vẫn hạn chế được thương vong do bom, pháo. Cùng lúc này các phân đội hoả lực cơ động như đại liên, ĐKZ, súng cối cũng di chuyển đến cách đối phương 500m để yểm trợ trực tiếp cho bộ binh tiêu diệt các ổ đề kháng.

4. Từ 200m đến mục tiêu: lúc này toàn thể quân phòng ngự đã có thể bắn nhưng ngược lại toàn bộ quân tấn công cũng thế, đây cũng là khoảng cách đủ để phát động xung phong ào ạt mà lính không bị kiệt sức nếu chạy nước rút đến vị trí đối phương. Đội hình xung phong khi đó là các tổ 3 người dàn hàng ngang, 1 chạy trước, 2 chạy sau hoặc 2 chạy trước, 1 chạy sau yểm trợ. Với hàng trăm hàng tổ như vậy xông lên thì lính trước vẫn che được sau, lính sau vẫn có thời gian ngắm bắn ghìm đầu quân phòng ngự xuống yểm hộ cho lính trước. Lúc này các phân đội hoả lực cơ động cũng đã di chuyển xong tới vị trí đủ gần để yểm hộ hữu hiệu cho quân xung phong.

Thực tế cho thấy chiến thuật này ban đầu đã gây choáng váng cho quân Mỹ, buộc họ rút chạy hàng trăm km từ sông Áp Lục về đến vĩ tuyến 38. Chiến thuật này tận dụng được tối đa ưu thế đông quân của Trung Quốc, hạn chế đáng kể nhược điểm yếu kém về hoả lực và trang bị.

Bevin Alexander giải thích trong cuốn "How Wars Are Won" (Cách thế nào để thắng các cuộc chiến tranh):

Phương cách thông thường là xâm nhập các đơn vị nhỏ của địch từ một trung đội 50 người đến một đại đội 200 người, bằng cách phân tán thành nhiều nhóm riêng lẻ. Trong lúc một đội cắt đường rút lui của người Mỹ, các đội khác đánh thẳng cả mặt trước và hai bên sườn trong các cuộc tiến công phối hợp nhịp nhàng. Các cuộc tiến công tiếp tục vào các phía cho đến khi những người phòng thủ bị tiêu diệt hoặc bắt buộc phải rút lui. Người Trung Quốc bò lên phía trước đến sườn mở nơi đóng chốt của trung đội kế tiếp và lập lại chiến thuật này.

Roy Appleman làm sáng tỏ hơn các chiến thuật của Trung Quốc như sau:

Trong giai đoạn đầu tiến công, các lực lượng bộ binh thiện chiến nhẹ đã thực hiện các cuộc tấn công của Trung Quốc, nói chung không được yểm trợ với bất kỳ loại vũ khí hạng nặng nào ngoài súng cối. Các cuộc tấn công đã chứng minh rằng binh sĩ Trung Quốc là những chiến binh có kỷ luật và được huấn luyện kỹ lưỡng, và đặc biệt lão luyện trong chiến đấu về đêm. Họ có tài về nghệ thuật ngụy trang. Các đội trinh sát rất thành công đáng kể trong việc phát hiện các vị trí của các lực lượng Liên Hiệp Quốc. Họ hoạch định các cuộc tấn công vào phía sau lưng của các lực lượng này, cắt đường rút lui và đường tiếp vận của quân địch, và rồi sau đó xung trận đánh vào mặt trước và bên sườn để kết thúc trận chiến. Họ cũng áp dụng một chiến thuật gọi là Hachi Shiki tạo thành một đội hình chữ V mà họ để cho quân địch di chuyển trong đó; hai cạnh của chữ V sau đó được khép lại quanh quân địch trong khi đó một lực lượng khác di chuyển phía dưới miệng chữ V để đón chặn bất cứ lực lượng nào cố giải vây cho đơn vị bị bao vây. Các chiến thuật như thế của Trung Hoa đã được sử dụng với những thành công to lớn tại Onjong, Unsan, và Ch'osan, nhưng chỉ thành công một phần tại Pakch'on và Ch'ongch'on.

Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến thuật này được Trung Quốc áp dụng rất nhiều trong các cuộc chiến của họ ở thế kỉ 20. Xuất phát từ hai đặc điểm là có số lượng đông đảo và trang bị kém, các nhà lãnh đạo quân sự của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã áp dụng rất thành công chiến thuật này trong cuộc nội chiến Quốc-Cộng, đẩy tập đoàn Quốc dân đảng ra khỏi đại lục Trung Quốc.

Cụ thể chiến thuật này bao gồm nhiều làn sóng người. Các làn sóng này liên tục tràn lên nhiều khi không có ranh giới rõ ràng giữa các đợt. Làn sóng đầu tiên được trang bị súng, các làn sau thì không. Khi làn sóng đầu có vũ khí bị tiêu diệt thì những người sau nhặt súng và tiếp tục xung phong.

Ưu điểm của chiến thuật này là tiết kiệm trang bị số súng trên đầu quân có thể là một khẩu súng dùng cho ba đến bốn người lính. Hơn nữa nó tận dụng được lợi thế số lượng đông đảo của người Trung Quốc, lại cho kết quả rất nhanh khiến đối phương không kịp phản ứng. Trong cuộc nội chiến cũng như chiến tranh Triều Tiên, yếu tố này có lúc đã làm cho người Mỹ phải đau đầu.

Nhược điểm của nó là thương vong lớn. Hiện tại chiến thuật này tiếp tục được người Trung Quốc tiếp tục cải tiến kết hợp với trang bị hiện đại và yểm trợ của không quân.