Chiến tranh Balkan lần thứ hai

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Chiến tranh Balkan thứ hai)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chiến tranh Balkan lần thứ hai
Một phần của Các cuộc chiến tranh Balkan
Balkan troubles1.jpg
Các Đại cường quốc dưới sự sợ hãi bùng nổ ở Balkan. Ngoài trừ Vương quốc ANh và Ý, Không Đại cường quốc nào sẽ sống sót do kết quả của cuộc khủng hoảng Balkan năm 1914, làm bùng nổ Thế chiến I.
.
Thời gian 16 tháng 6 năm 1913 – 18 tháng 7 năm 1913
Địa điểm bán đảo Balkan
Kết quả Bulgaria thất bại
Tham chiến
 Vương quốc Bulgaria  Vương quốc Serbia
 Vương quốc Romania
Hy Lạp Hy Lạp
 Montenegro
 Đế quốc Ottoman
Chỉ huy
Vương quốc Bulgaria Mihail Savov
Vương quốc Bulgaria Vasil Kutinchev
Vương quốc Bulgaria Nikola Ivanov
Vương quốc Bulgaria Radko Dimitriev
Vương quốc Bulgaria Stiliyan Kovachev
Vương quốc Bulgaria Stefan Toshev
Vương quốc Serbia Radomir Putnik
România Crown Prince Ferdinand
România Alexandru Averescu
Hy Lạp Constantine I
Đế quốc Ottoman Ahmet Izzet Pasha
Lực lượng
Vương quốc Bulgaria 500.221–576.878 Vương quốc Serbia 348.000 người[1]
România 330.000[1]
Hy Lạp 148.000
Vương quốc Montenegro 12,802[1]
Đế quốc Ottoman 255.000 người[2]
Tổng công: 1.093.802 người
Tổn thất
Vương quốc BulgariaBulgaria:
18.000 người chết
60.000 người bị thương
15.000 người chết vì bệnh[3]

Tổng cộng:
93.000 chết hoặc bị thương
Vương quốc SerbiaSerbia:
9.000 bị giết
36.000 người bị thương
5.000 bị chết vì bệnh[3]
Hy LạpHy Lạp:
5.851 bị giết khi thi hành nhiệm vụ
23.847 bị thương khi tham chiến
580 frostbitten
188 missing in action
Unknown non-combat related casualties[4]
Vương quốc MontenegroMontenegro:
240 chết
961 bị thương[3]
RomâniaRomania:
negligible combat casualties
6.000 người chết vì bệnh[5]
Đế quốc OttomanĐế chế Ottoman:
negligible combat casualties
4,000 người chết vì bệnh[6]

Tổng cộng:
~91.000 chết hoặc bị thương
.

Chiến tranh Balkan lần thứ hai là một cuộc xung đột nổ ra khi Bulgaria do không hài lòng với phần lãnh thổ chiến lợi phẩm của mình trong chiến tranh Balkan lần thứ nhất đã tấn công các đồng minh cũ của mình là SerbiaHy Lạp vào ngày 16 tháng 6 năm 1913 (kiểu cũ). Bulgaria đã đạt được một thỏa thuận từ trước chiến tranh về sự phân chia vùng Macedonia. Tuy nhiên, vì không hài lòng khi bị các cường quốc ép phải rút khỏi Albania, Serbia đã không chịu từ bỏ thêm bất kỳ vùng lãnh thổ nào nữa. Bulgaria sau đó tuyên chiến với Serbia. Chẳng bao lâu, cuộc đụng độ nhỏ xảy ra dọc theo biên giới của các khu chiếm đóng giữa Bulgaria, Serbia và Hy Lạp. Serbia bắt đầu đàm phán với Hy Lạp, nước cũng lo ngại về ý định của Bulgaria. Quân đội Serbia và Hy Lạp thất bại trong việc đẩy lùi cuộc tấn công của Bungaria. Romania cũng tấn công Bulgaria, với cái cớ liên quan đến ranh giới lãnh thổ trước đây của họ. Đế chế Ottoman cũng đã lợi dụng tình hình để giành lại lãnh thổ bị mất từ cuộc chiến trước đó.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Hall (2000), p. 117.
  2. ^ Edward J. Erickson, Defeat in Detail, The Ottoman Army in the Balkans, 1912–1913, Westport, Praeger, 2003, p. 323.
  3. ^ a ă â Hall (2000), p. 135.
  4. ^ Calculation (PDF) (bằng Greek), Greek Army Staff, tr. 12, truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2010 .
  5. ^ Hall (2000), p. 118.
  6. ^ Hall (2000), p. 119.