Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha
Bakhuizen, Battle of Vigo Bay.jpg
trận vịnh Vigo, Hải quân Anh và Hà Lan hủy diệt một hạm đội chở châu báu về từ thuộc địa của Tây Ban Nha, cướp được số hàng hóa trị giá một triệu sterling.
.
Thời gian 1701–1714
Địa điểm Châu Âu, Bắc MỹTây Ấn
Kết quả Hòa ước Utrecht 1713
Hòa ước Rastatt 1714
Tham chiến
Đế quốc La Mã thần thánh:

Cờ của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Vương quốc Anh[1]
Flag of the Netherlands Cộng hòa Hà Lan
Cờ của Vương quốc Phổ Vương quốc Phổ
Cờ của Bồ Đào Nha Vương quốc Bồ Đào Nha

Cờ của Pháp[2] Pháp
Cờ của Tây Ban Nha Vương quốc Tây Ban Nha
Cờ của Bayern Tuyển hầu của Bayern
Hungary
Chỉ huy
Eugène xứ Savoie

Bá tước của Baden
Bá tước Starhemberg
Cờ của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Công tước của Marlborough
Cờ của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Hầu tước của Ruvigny
Flag of the Netherlands Bá tước Overkirk
Cờ của Bồ Đào Nha Hầu tước của Minas
Victor Amadeus II

Cờ của Pháp Công tước của Villars

Cờ của Pháp Công tước của Vendôme
Cờ của Pháp Công tước của Boufflers
Cờ của Pháp Công tước của Villeroi
Cờ của Pháp Bá tước của Tessé
Cờ của Pháp Công tước của Berwick
Cờ của Bayern Maximilian II Emanuel
Cờ của Tây Ban Nha Hầu tước của Villadarias
Ferenc II Rákóczi

Lực lượng
232.000[3] Pháp 373.000[4]
.

Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha diễn ra từ 1701 đến 1714 khi một số cường quốcchâu Âu liên minh với nhau để ngăn không cho một thành viên của Hoàng gia BourbonPháp được thừa kế ngai vàng Đế quốc Tây Ban Nha do điều này có thể dẫn tới việc hợp nhất hai vương quốc hùng mạnh là Pháp và Tây Ban Nha dưới sự cai trị của một quân vương duy nhất, ảnh hưởng tới cân bằng quyền lực ở châu Âu. Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha là một cuộc chiến lớn ở châu Âu, bao gồm cả chiến tranh Nữ hoàng Anne ở Bắc Mỹ. Cuộc chiến ghi dấu ấn của nhiều vị chỉ huy quân sự kiệt xuất như Claude-Louis-Hector de Villars, James FitzJames, Công tước thứ nhất của Berwick-upon-Tweed, John Churchill, Công tước thứ nhất của Marlborough, Vương công Eugène xứ SavoieVương công Leopold I xứ Anhalt-Dessau ("Ông già Dessau"[5]).

Năm 1700, vua Tây Ban Nha là Carlos II qua đời và di chúc toàn bộ tài sản của ông lại cho Philippe (tiếng Pháp, Felipe trong tiếng Tây Ban Nha), Công tước của Anjou, cháu của vua Pháp Louis XIV. Qua đó, Philippe trở thành Felipe V của Tây Ban Nha. Cuộc chiến khởi đầu một cách chậm chạp, khi hoàng đế Đế quốc La Mã thần thánh Leopold I chiến đấu đòi quyền thừa kế của ông và dòng họ nhà Habsburg đối với Tây Ban Nha. Sau đó, khi Louis XIV bắt đầu tìm cách mở rộng lãnh thổ của ông một cách ngày càng hiếu chiến hơn, các quốc gia châu Âu (chủ yếu là Anh, Bồ Đào NhaHà Lan) đứng về phía Đế quốc La Mã thần thánh để ngăn cản sự mở rộng của nước Pháp.[6] Các quốc gia khác tham gia vào liên minh chống lại Pháp và Tây Ban Nha với tham vọng mở rộng lãnh thổ hoặc bảo vệ các nước chư hầu. Bản thân Tây Ban Nha cũng bị chia rẽ vì vấn đề thừa kế và rơi vào một cuộc nội chiến.

Cuộc chiến tập trung ở Tây Ban Nha và miền Trung Tây châu Âu với những trận đánh quan trọng ở ĐứcÝ. Vương công Eugène xứ Savoie và Công tước John Churchill của Marlborough đã hợp tác với nhau,[7] hai ông đặc biệt nổi bật là hai chỉ huy tài ba trong chiến trận.

Cuộc chiến không chỉ diễn ra ở châu Âu, mà cả ở Bắc Mỹ, nơi xung đột được gọi bằng tên chiến tranh nữ hoàng Anne giữa các thuộc địa của Anh và thuộc địa của Tây Ban Nha, bao gồm cả sự tham gia của những nhóm cướp biển. Tính toàn cuộc chiến, khoảng 400.000 người đã bị thiệt mạng.[8]

Chiến tranh kết thúc với hai hòa ước: Hòa ước Utrecht 1713Hòa ước Rastatt 1714. Kết quả là Felipe V vẫn làm vua Tây Ban Nha nhưng ông, cũng như con cháu ông, sẽ không được phép kế vị ngai vàng ở Pháp, nhằm ngăn chặn việc hợp nhất hai nước Pháp và Tây Ban Nha. Áo giành được hầu hết các lãnh thổ của Tây Ban Nha ở Italia và Hà Lan. Ưu thế vượt trội của nước Pháp ở châu Âu lục địa kết thúc và ý tưởng về cân bằng lực lượng bắt đầu đóng vai trò quan trọng đối với quan hệ quốc tế.[9] Nước Anh toàn thắng trong cuộc Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha.[10]

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Vì vua Carlos II của Tây Ban Nha rất yếu ớt và mắc những bệnh nghiêm trọng cả về thể chất lẫn thần kinh khi còn nhỏ, ông không có người thừa kế. Do đó, vấn đề ai sẽ thừa kế các lãnh thổ của vương quốc Tây Ban Nha, vốn không chỉ bao gồm Tây Ban Nha, mà cả các nước chư hầu ở Ý, những quốc gia thuộc miền đất thấp và nhiều lãnh thổ thuộc địa khác ở châu Mỹ, trở nên rất được quan tâm. Hai triều đình cùng tuyên bố quyền thừa kế ngai vàng Tây Ban Nha: Dòng họ BourbonPháp và dòng họ HabsburgÁo, cả hai dòng họ hoàng tộc này đều có những mối liên hệ thân thiết với vua Tây Ban Nha quá cố.

Louis XIV của Pháp (1638–1715), do Hyacinthe Rigaud vẽ (1701).

Người thừa kế gần nhất về mặt pháp luật với vua Tây Ban Nha là Louis, Thái tử Pháp (1661-1711), đứa con hợp pháp duy nhất của Louis XIV và công chúa Tây Ban Nha Maria Theresia. Bà này là em gái cùng cha khác mẹ với vua Carlos II của Tây Ban Nha. Thêm nữa, Louis XIV cũng là em con cô con cậu của Carlos II. Thái hậu Pháp, Anne của Áo, một người Tây Ban Nha, là em gái của vua Felipe IV của Tây Ban Nha, cha của Carlos II. Thái tử Louis cũng là người thừa kế chính thức ngai vàng nước Pháp. Do đó, một lựa chọn khó khăn đặt ra: nếu thừa kế cả Pháp và Tây Ban Nha, ông sẽ cai trị một lãnh thổ khổng lồ có khả năng đe dọa tới sự cân bằng quyền lực ở châu Âu. Hơn nữa, cả Anne và Maria Theresia đều tuyên bố từ bỏ quyền thừa kế Tây Ban Nha do kết quả của những cuộc hôn nhân của họ.

Carlos II là vị vua cuối cùng của dòng họ HabsburgTây Ban Nha. Sau cái chết của ông, Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha bùng nổ khi Pháp và Áo tranh giành quyền thừa kế Tây Ban Nha.

Một ứng cử viên khác là hoàng đế Đế quốc La Mã thần thánh, Leopold I, thuộc triều đình Habsburg ở Áo. Ông là anh họ thứ nhất của vua Tây Ban Nha, mẹ ông là một người chị của Felipe IV. Hơn nữa, cha của Carlos II, Felipe IV của Tây Ban Nha để lại di chúc thể hiện mong muốn được trao ngai vàng cho nhánh họ hàng bên Áo. Tuy nhiên, ứng cử viên này cũng gặp vấn đề giống như với Thái tử Louis. Nếu Leopold kế vị Tây Ban Nha, đế chế Tây Ban Nha - Áo được hợp nhất quá hùng mạnh dưới sự cai trị của dòng họ Habsburg cũng sẽ đe dọa tới cân bằng quyền lực ở châu Âu. Năm 1668, chỉ ba năm sau khi Carlos II lên ngôi, Leopold, khi đó cũng chưa có con, đồng ý thỏa thuận phân chia các lãnh thổ của Tây Ban Nha với dòng họ Bourbon, mặc dù di chúc của Felipe IV để lại cho ông quyền thừa kế trọn vẹn. Tuy nhiên sau này, vào năm 1689, khi William III của Anh yêu cầu sự hỗ trợ của Leopold I trong chiến tranh chín năm chống lại Pháp, vua Anh hứa sẽ ủng hộ Leopold I trong việc giành lấy những vùng đất chưa được phân chia của đế quốc Tây Ban Nha.

Một ứng cử viên mới cho ngai vàng Tây Ban Nha, Vương công - Tuyển hầu tước Công tước Joseph Ferdinand của Bayern, ra đời năm 1692. Joseph Ferdinand là cháu ngoại của Leopold I, không thuộc dòng Habrsburg mà thuộc dòng Wittelsbach. Mẹ ông, Maria Antonia của Áo, là con gái của Leopold với Margaret Theresia, con gái của Felipe IV của Tây Ban Nha. Vì Joseph Ferdinand không thuộc dòng Bourbon, cũng không thuộc dòng Habsburg, khả năng ông hợp nhất Tây Ban Nha với Pháp hoặc Áo là rất thấp. Mặc dù cả Leopold và Louis đều sẵn sàng trì hoãn việc thừa kế cho những hậu nhân trong dòng tộc của mình, Leopold cho cậu con trai nhỏ, Đại Công tước Karl, và Louis cho con trai nhỏ của thái tử, Philippe, Công tước của Anjou, hoàng tử mới sinh của Bayern vẫn là một ứng cử viên tiềm năng. Dần dần, Joseph Ferdinand trở thành lựa chọn được Anh và Hà Lan ủng hộ, ngoài ra, ông còn là người thừa kế đúng theo luật của ngai vàng Tây Ban Nha theo di chúc của Felipe IV.

Khi chiến tranh chín năm kết thúc vào năm 1697, vấn đề thừa kế Tây Ban Nha trở nên hết sức quan trọng. Anh và Pháp, kiệt quệ vì cuộc chiến, đi tới hòa ước Den Haag 1698 để Joseph Ferdinand làm người thừa kế ngai vàng Tây Ban Nha, nhưng lại chia nhau những vùng lãnh thổ phụ thuộc Tây Ban Nha ở Ý và vùng đất thấp. Quyết định này đã không tham khảo trước những người Tây Ban Nha, vốn chống đối mạnh mẽ việc chia cắt đế chế của họ. Do đó, khi hòa ước Den Haag được công bố năm 1698, Carlos II đồng ý để hoàng tử Bayern làm người kế vị của ông, nhưng là trên toàn đế quốc Tây Ban Nha, chứ không chỉ những vùng do Pháp và Anh chỉ định.

Tuy nhiên, hoàng tử trẻ của Bayern qua đời vì bệnh đậu mùa vào năm 1699, khiến vấn đề thừa kế Tây Ban Nha lại được đặt ra. Anh Quốc và Pháp ký Hiệp ước Luân Đôn 1700, chỉ định Đại Công tước Karl, con trai của Leopold I, kế vị ngai vàng Tây Ban Nha. Những vùng đất thuộc Tây Ban Nha ở Ý sẽ sang tay Pháp trong khi hoàng tử nhận phần còn lại của Tây Ban Nha. Áo, không được tham gia hiệp ước đó, tỏ ra không hài lòng bởi họ đòi quyền thừa kế với toàn bộ Tây Ban Nha, trong đó những vùng đất thuộc Ý là nơi Áo quan tâm nhất: Giàu có hơn, gần với Áo hơn và dễ cai trị hơn. Ở Tây Ban Nha, sự phản đối Hiệp ước Luân Đôn còn mạnh mẽ hơn. Tuy nhiên, trong khi triều đình Tây Ban Nha nhất trí về việc phản đối hiệp ước, họ bị chia rẽ giữa hai phe ủng hộ trao quyền thừa kế cho dòng họ Habsburg hay dòng họ Bourbon. Những người thân Pháp chiếm ưu thế và tháng 10 năm 1700, Carlos II đồng ý di chúc lại toàn bộ đế quốc Tây Ban Nha cho con trai thứ hai của Thái tử Louis, Công tước của Anjou. Carlos II đồng thời cũng ra quy định ngăn cản sự hợp nhất Tây Ban Nha và Pháp: Nếu Công tước của Anjou thừa kế ngai vàng Pháp, Tây Ban Nha sẽ được trao lại cho em ông, Charles, Công tước Berry. Sau Anjou và người em trai, Đại Công tước Karl của Vương triều Habsurg là người kế vị tiếp theo.

Khởi đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Khi triều đình Pháp biết về di chúc của Carlos II, các cận thần của Louis XIV thuyết phục nhà vua rằng chấp thuận các điều khoản của Hiệp ước Luân Đôn 1700 sẽ an toàn hơn là mạo hiểm lao vào một cuộc chiến tranh bằng cách tuyên bố quyền thừa kế toàn bộ Tây Ban Nha. Tuy nhiên, Jean-Baptiste Colbert, bộ trưởng ngoại giao của Pháp, tranh biện rằng dù cho có chấp nhận chỉ thừa kế một phần đế quốc Tây Ban Nha, Pháp vẫn sẽ phải đối đầu với Áo, vốn không muốn thừa nhận Hiệp ước Luân Đôn. Hơn nữa, những điều khoản trong di chúc của Carlos II có nghĩa là Anjou chỉ có hai lựa chọn: Hoặc thừa kế toàn bộ Tây Ban Nha, hoặc không gì cả. Nếu Anjou từ chối quyền thừa kế, toàn bộ đế quốc Tây Ban Nha được chuyển cho em trai ông, Charles, Công tước của Berry hoặc cho Đại Công tước Karl của Áo nếu Công tước của Berry, đến lượt mình, không nhận quyền thừa kế. Hiểu rằng những cường quốc hàng hải, AnhHà Lan (lúc này được gọi bằng cái tên Các tỉnh liên kết), sẽ không đứng về phía Pháp để gây chiến chống lại những người Áo và Tây Ban Nha đang không hài lòng, Louis quyết tâm giành lấy quyền thừa kế cho cháu nội mình. Carlos II băng hà ngày 1 tháng 11 năm 1700 và ngày 24 tháng 11, Louis XIV tuyên bố Anjou là vua của Tây Ban Nha. Vị vua mới, Felipe V, tuyên bố quyền cai trị trên toàn bộ lãnh thổ của đế quốc Tây Ban Nha, trái ngược với những điều khoản trong Hiệp ước Luân Đôn. Tuy nhiên, William III của Anh không thể tuyên chiến với Pháp vì ông vẫn chưa nhận được sự ủng hộ của những nhân vật cao cấp trong nước cũng như từ phía Các tỉnh liên kết. Ông đành miễn cưỡng công nhận Felipe là vua Tây Ban Nha vào tháng 4 năm 1701.

John Churchill, Công tước thứ nhất của Marlborough là tư lệnh liên quân Anh, Hà Lan và Đức. Ông chỉ huy liên quân chống Pháp đập tan tác liên quân Pháp - Bayern ở trận Blenheim.

Tuy nhiên, Louis đã lựa chọn một đường lối quá hiếu chiến trong nỗ lực củng cố quyền thống trị của nước Pháp ở châu Âu. Ông cắt đứt giao thương giữa Tây Ban Nha với Anh và Hà Lan. Điều này đe dọa nghiêm trọng các lợi ích thương mại của hai quốc gia nói trên. Nhờ thế, William III tranh thủ được sự ủng hộ từ trong nước để thương lượng và ký kết Hiệp ước Den Haag 1701 với Các tỉnh liên kết và Áo. Thỏa thuận đạt được ngày 7 tháng 9 năm 1701 công nhận Felipe V là vua của Tây Ban Nha, nhưng trao cho Áo điều nước này thèm muốn nhất: những lãnh địa thuộc Tây Ban Nha ở Ý, đồng thời buộc Áo phải chấp nhận các lãnh địa của Tây Ban Nha ở Hà Lan, qua đó tách những vùng đất trọng yếu này khỏi sự kiểm soát của Pháp. Đổi lại, Anh và Các tỉnh liên kết sẽ được đảm bảo những quyền lợi về thương mại ở Tây Ban Nha.

Một vài ngày sau khi Hiệp ước Den Haag được ký kết, cựu vương của nước Anh, James II (ông bị vua William III lật đổ vào năm 1688) qua đời ở Pháp. Mặc dù Louis XIV đã xem William là vua của nước Anh từ Hiệp ước Ryswick 1697, giờ ông lại công nhận con trai của James II, James Francis Edward Stuart, là người thừa kế ngai vàng nước Anh. Anh Quốc và Các tỉnh liên kết đã huy động quân đội từ trước đó. Hành động của Louis càng khiến dư luận Anh Quốc giận dữ và cho William cơ sở để phát động chiến tranh. Xung động vũ trang lúc đầu diễn ra kiềm chế, khi Quân đội Áo dưới sự chỉ huy của Vương công Eugène xứ Savoie đưa quân vào Công quốc Milan, một trong những lãnh địa của Tây Ban Nha ở Italia, khiến Pháp buộc phải can thiệp. Anh Quốc, Các tỉnh liên kết và hầu hết các quốc gia nhỏ ở Đế quốc La Mã Thần thánh dân tộc Đức (đáng kể nhất là PhổHanover) đứng về phía Áo, trong khi các tuyển hầu dòng họ WittelsbachBayernKöln, vương quốc Bồ Đào Nha và Công tước của Savoie ủng hộ Pháp và Tây Ban Nha. Ở Tây Ban Nha, các hội đồng cai trị ở xứ Aragon, ValenciaCatalonia (hầu hết khu vực dưới sự cai trị của triều đình Aragon) tuyên bố đứng về phía Hoàng tử Áo. Ngay cả sau khi vua William III qua đời năm 1702, người kế vị của ông ở Anh Quốc, Anne, vẫn tích cực chuẩn bị cho chiến tranh với sự trợ giúp của các bộ trưởng Sidney GodolphinJason Churchill.

Giai đoạn thứ nhất: 1701–1703[sửa | sửa mã nguồn]

Công tước Villars chỉ huy đoàn quân kỵ binh của ông đến với chiến thắng ở trân Friedlingen.

Năm 1702, Vương công Eugene chiến đấu ở Ý, nơi quân Pháp do công tước Villeroi chỉ huy. Eugene đánh tan tác quân Pháp và bắt sống Villeroi ở trận Cremona ngày 1 tháng 2. Villeroi được Pháp thay bằng công tước Vendôme. Vendôme và Eugene coi như hòa nhau trong trận Luzzara diễn ra vào tháng 8. Sau đó Vendôme giành được một số lợi thế đáng kể, nhưng vẫn không thể đẩy Eugene khỏi Ý.

Trong lúc đó, Công tước Marlborough chỉ huy lực lượng liên quân Anh, Hà LanĐức ở vùng đất thấp. Tại đây, ông chiếm được một số pháo đài quan trọng, đáng kể nhất có Liège. Trên sông Rhine, Quân đội Đế quốc La Mã Thần thánh do Louis, bá tước của Baden-Baden chỉ huy chiếm được Landau vào tháng 9, nhưng mối đe dọa với vùng Alsace được giảm bớt sau khi Maximilian II Emanuel, Tuyển hầu tước của Bayern bước vào cuộc chiến đứng về phía Pháp. Louis của Baden-Baden buộc phải rút lui dọc theo sông Rhine. Tại đó, ông bị quân đội Pháp do Claude Louis Hector de Villars chỉ huy đánh bại ở trận Friedlingen - nhưng đây là một chiến thắng kiểu Pyrros của quân Pháp.[11] Trên biển, đô đốc Anh Sir George Rooke giành được một thắng lợi quan trọng, trận vịnh Vigo, cướp được nhiều tấn bạc và dẫn tới sự hủy diệt hoàn toàn của hải đội trở hàng hóa và châu báu từ thuộc địa của Tây Ban Nha.

Sang năm sau, danh tướng Marlborough chiếm được Bon và buộc Tuyển hầu tước của Cologne phải lưu vong, nhưng ông lại không thể chiếm được Antwerp. Quân Pháp giành được nhiều chiến thắng ở Đức. Liên quân Pháp - Bayern do Villars và Max Emanuel của Bayern đánh bại Quân đội Đế chế La Mã Thần thánh do Louis của Baden và Hermann Styrum chỉ huy. Tuy nhiên, sự thận trọng của Max Emanuel khiến liên quân Pháp - Bayern không thể tiến thẳng tới kinh thành Viên. Và, Quân đội của Styrum đã được cứu vãn nhờ một cuộc lui binh hiển hách do một danh tướng của Quân đội Phổ và liên quân chống Pháp là Vương công Leopold I xứ Anhalt-Dessau - tức "Ông già Dessau" - thực hiện sau trận Höchstädt lần thứ nhất.[12] Sự bất đồng ý kiến dẫn tới việc Villars từ chức. Quân Pháp, giờ do Camille de Tallard chỉ huy, tiếp tục giành chiến thắng ở miền nam Đức sau khi Villars từ chức. Các chỉ huy Pháp vạch ra một kế hoạch đầy tham vọng, dự kiến sẽ đánh chiếm kinh đô nước Áo trong năm 1703. Tuy nhiên, vào cuối năm 1703, quân Pháp gặp bất lợi khi Bồ Đào Nha và xứ Savoy trở cờ sang phe đế chế. Người Anh, trước giờ vẫn cho rằng Philip có thể kế vị Tây Ban Nha, giờ quyết định rằng các lợi ích thương mại của họ sẽ được bảo đảm hơn nếu Đại Công tước Karl của Áo được kế vị Tây Ban Nha.

Vua Tây Ban Nha Felipe V phong tước cho James FitzJames thành quý tộc Pháp sau khi ông đánh bại liên quân ở trận Almanza. Jean Dominique Auguste Ingres vẽ.

Giai đoạn thứ hai: 1704–1709[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1704, kế hoạch của Pháp là sử dụng quân đội của Villeroi ở Hà Lan để kiềm chế Marlborough. Còn Tallard và liên quân Pháp - Bayern do Max Emanuel và Ferdinand de Marsin, người thay thế Villars, chỉ huy, sẽ tiến đến kinh thành Viên.

Marlborough, bất chấp mong muốn của người Hà Lan đóng quân giữ vùng đất thấp, dẫn liên quân Anh-Hà Lan về miền nam Đức. Trong khi đó, Eugène chỉ huy quân Áo tiến về phía bắc từ Ý. Mục tiêu của những kế hoạch này là ngăn liên quân Pháp-Bayern tiến đến thành Viên. Đạo quân của hai danh tướng Marlborough và Eugène chạm trán quân Pháp do Tallard chỉ huy trong trận đánh lớn tại Blenheim (Còn gọi là trận Höchstädt lần thứ hai[12]) với thắng lợi oanh liệt cho Marlborough và Eugène, loại quân Bayern khỏi vòng chiến. Xứ Schwaben cũng rơi vào tay liên quân chống Pháp.[13] Trong trận đánh tại Blenheim, "Ông già Dessau" tức Vương công Leopold I xứ Anhalt-Dessau đã đóng vai trò không nhỏ đối với chiến thắng oanh liệt của liên quân chống Pháp.[12][14] Trong năm đó, Quân đội Anh giành được một thắng lợi quan trọng khi kiểm soát được Gibraltar ở Tây Ban Nha với sự trợ giúp của quân đội Hà Lan do hoàng tử George của Hesse-Darmstadt, đại diện cho Đại Công tước Karl, chỉ huy.

Sau đại thắng tại Blenheim, Marlborough và Eugène chia quân ra làm hai nhánh. Marlborough trở về vùng đất thấp, rồi sau đó là Ý. Năm 1705, chiến sự diễn ra cầm chừng khi không bên nào giành được tiến bộ đáng kể. Những nỗ lực xâm lấn nước Pháp của Marlborough không đi tới đâu. Ông chặn được Villeroi và vượt qua phòng tuyến Brabant ở trận Elixheim, ông không lừa được tư lệnh quân Pháp ra chiến trường. Villars và Louis của Baden không đạt được thắng lợi nào đáng kể tại Rhine. Tình hình của Vendôme và Eugene tại Ý cũng thế. Thế bế tắc bị phá vỡ vào năm 1706 khi Marlborough đẩy được quân Pháp ra khỏi hầu hết lãnh thổ Hà Lan thuộc Tây Ban Nha, đánh bại quân của Villeroi ở trận Ramilles vào tháng 5 và sau đó chiếm được cả AntwerpDunkirk thuộc Pháp. Hoàn thân Eugene cũng thành công. Tháng 9, sau khi Vendôme phải đến Hà Lan để cứu vãn tình hình ở đó, Eugene và công tước của Savoy gây ra một thất bại nặng nề cho quân Pháp do Orleans và Marsin chỉ huy ở trận Turin và vào cuối năm đánh đuổi quân Pháp khỏi Ý. Trong trận thắng tại Turin, "Ông già Dessau" đã tham chiến cùng với Vương công Eugène xứ Savoie.[5]

Giờ đây, khi quân Pháp đã bị đẩy ra khỏi Đức, Hà Lan và Ý, Tây Ban Nha trở thành chiến trường chính trong các năm tiếp theo. Năm 1706, tướng Bồ Đào Nha Marquês das Minas chỉ huy một cuộc tấn công vào Tây Ban Nha từ Bồ Đào Nha, chiếm được Madrid. Tuy nhiên, vào cuối năm, Madrid bị tái chiếm bởi quân đội do vua Philip V và James FitzJames, Công tước thứ nhất của Berwick upon Tweed (con trai ngoài giá thú của cựu vương Anh Quốc James II, phục vụ cho quân đội Pháp) chỉ huy. Henri de Massue, tử tước thứ nhất của Galway chỉ huy một cánh quân định đánh chiếm Madrid một lần nữa năm 1707, nhưng Berwick đã đánh bại ông này ở trận Almansa ngày 25 tháng 4. Do đó, cuộc chiến ở Tây Ban Nha rơi vào thế giằng co.

Vương công Eugène xứ Savoie do Jacob van Schuppen vẽ. Vương công Eugène là vị thống soái xuất sắc nhất trong các chỉ huy của phe Habsburg. Ông chiến đấu bên cạnh Marlborough ở trận Malplaquet.

Năm 1707, cuộc chiến bị gián đoạn bởi cuộc Đại chiến phương bắc ở Bắc Âu. Quân đội Thụy Điển dưới sự chỉ huy của vua Karl XII tới vùng Sachsen, sau khi ông đánh tan tác quân của Tuyển hầu tước xứ Sachsen kiêm vua Ba Lan là August II, và buộc ông này phải từ bỏ ngai vàng tại Vương quốc Ba Lan và Đại Công quốc Litva. Cả hai phe Pháp và Liên quân chống Pháp đều gửi sứ thần tới nơi Karl XII đóng quân. Người Pháp hi vọng thuyết phục ông phát đại binh đánh Hoàng đế Joseph I của Đế chế La Mã thần thánh, vì ông này từng có tiền sử là người ủng hộ của Augustus. Tuy nhiên, Karl XII, tự coi mình là một minh chủ tối cao của đức tin Tin Lành ở châu Âu, rất ghét Louis XIV và không hứng thú với cuộc chiến tranh ở Tây Âu. Ông tập trung sự chú ý của mình sang nước Nga, chấm dứt khả năng quân Thụy Điển có thể can thiệp vào cuộc chiến.

Sau đó năm 1707, Vương công Eugène chỉ huy một đợt tấn công của quân đế chế ở miền nam Pháp từ Ý, nhưng bị quân Pháp chặn lại. Cùng lúc, Marlborough vẫn đóng quân ở vùng đất thấp, nơi ông mắc kẹt trong những trận công thành không bao giờ kết thúc. Vào năm 1708, Quân đội của Marlborough đụng độ quân Pháp. Lúc này quân Pháp bị chia rẽ bởi vấn đề chỉ huy. Những viên tư lệnh của họ, Hoàng thái tử Louis (1682-1712) (cháu của vua Louis XIV) và Công tước của Vendôme không hòa thuận. Hoàng thái tử Louis thường đưa ra những quyết định quân sự thiếu khôn ngoan.

Do Bourgogne cứ khăng khăng không cho Quân đội Pháp tiến công, Công tước của Marlborough một lần nữa có thể họp binh với Vương công Eugène, giúp cho liên quan chống Pháp đập tan tác quân Pháp trong trận đánh tại Oudenarde, sau đó chiếm lĩnh được Lille. Tại Ý, Quân đội Áo tấn công các thành phố như Forlì (1708).

Những chiến bại thảm hại tại Oudenarde và Lille đưa nước Pháp đến bờ vực sụp đổ. Vua Louis XIV buộc phải thương lượng; ông sai quan Thượng thư Bộ Ngoại giao là Hầu tước Torcy đến diện kiến các thống lĩnh liên quân chống Pháp tại The Hague. Nhà vua đồng ý nhượng Tây Ban Nha và tất cả các lãnh thổ của nó cho các nước chống Pháp, chỉ yêu cầu họ cho phép ông được quyền giữ lấy xứ Napoli (ở Ý). Không những thế, ông còn chuẩn bị cung cấp tiền hỗ trợ cho liên quân chống Pháp đánh đuổi Felipe V ra khỏi Tây Ban Nha. Tuy nhiên, các nước chống Pháp áp đặt lên Louis XIV những điều khoản tệ hại hơn; họ yêu cầu ông dùng Quân đội Pháp để hạ bệ người cháu của chính mình. Nhưng Louis từ chối yêu cầu này, và quyết định tiếp tục đấu tranh cho đến khi nhận lấy kết thúc bi thảm. Ông kêu gọi nhân dân Pháp đấu tranh, và có được hàng nghìn tân binh.

Vào năm 1709, liên quân chống Pháp tiến hành ba cuộc chinh phạt Pháp, nhưng hai trong số các cuộc chinh chiến đó thật quá nhỏ bé đến mức chúng chỉ mang tính chất của những cuộc nghi binh. Khi Marlborough và Eugène họp binh đánh kinh thành Paris thì họ tiến hành một cuộc chinh chiến lớn hơn. Họ trạm chán với quân Pháp của Công tước Villars trong trận đánh tại Malplaquet - trận đánh khốc liệt nhất trong cuộc chiến. Mặc dù liên quân chống Pháp đè bẹp quân Pháp, họ mất đến hơn 2 vạn binh sĩ, trong khi quân Pháp chỉ mất có 1 vạn binh sĩ. Liên quân chống Pháp chiếm được Mons nhưng họ không thể phát huy thế thượng phong của mình. Trận đánh tại Malplaquet là một bước ngoặt trong cuộc chiến tranh; dù thắng trận, liên quân chống Pháp không thể tiếp tục tiến đánh nước Pháp, do chịu tổn thất quá nặng nề. Hoàng thái tử nước PhổFriedrich Wilhelm đã tham chiến với danh tướng Leopold xứ Anhalt Dessau và liên quân chống Pháp trong trận đánh tại Malplaquet, và sau này ông sẽ là vua Friedrich Wilhelm I - vị vua có công xây dựng lực lượng Quân đội Phổ tinh nhuệ.[15][16]

Thống chế Villars (1653–1734) đã giành lại thế thượng phong của quân Pháp trong cuộc Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha. Ông là vị thống soái thành công nhất của vua Louis XIV trong cuộc chiến tranh này.

Giai đoạn cuối: 1710–1714[sửa | sửa mã nguồn]

Thống chế Villars kéo quân Pháp xông lên trong trận Denain. Tranh sơn dầu trên vải bạt, 1839.

Vào năm 1710, liên quân chống Pháp tiến hành cuộc chinh chiến cuối cùng tại Tây Ban Nha, nhưng không khả thi. Bá tước James Stanhope cùng Đại Công tước Karl kéo quân đến kinh thành Madrid, nhưng viện binh Pháp kéo đến và bắt đội quân của Stanhope phải đầu hàng tại Brihuega. Trong khoảng thời gian đó, liên minh chống Pháp cũng bắt đồng suy yếu. Tại Anh Quốc[17] Ảnh hưởng chính trị lớn lao của Marlborough đã mất đi: tiếc thay, tình bạn giữa vợ ông và Nữ hoàng Anne - nguyên nhân của phần lớn ảnh hưởng chính trị của ông - không còn nữa, với việc Nữ hoàng Anne cách chức Công nương của Marlborough và tống khứ bà ra khỏi cung đình. Không những thế, Đảng Tory lên làm Đảng cầm quyền sau khi Whig - một đảng ủng hộ chiến tranh - mất chức, và Đảng Tory tìm kiếm hòa bình.

Vào năm 1711, Đại Công tước Karl lên ngôi Hoàng đế Karl VI sau khi vua anh Joseph I đột ngột qua đời. Trong thời điểm này, một chiến thắng quyết định của nước Áo trong việc thống nhất Đế quốc La Mã Thần thánh với Vương quốc Tây Ban Nha, sẽ làm thay đổi cán cân quyền lực, cũng như nếu Pháp chiến thắng.

Marlborough giành chiến thắng về chiến lược trước Villars, phá vỡ các phòng tuyến của quân Pháp tại Ne Plus Ultra và chiếm được Bouchain, nhưng ông lại bị gọi về Anh Quốc cuối năm đó, và được thanh thế bởi Công tước thứ hai của Ormonde. Triều đình Anh, theo đường lối của quan Khâm sai Thượng thư Henry St John, bắt đầu trao đổi thư từ bí mật với Hầu tước Torcy, loại trừ người Hà Lan và Áo ra khỏi các cuộc đàm phấn của họ. Công tước của Ormonde cũng từ chối cho Quân đội Anh xông pha trên trận tiền, do đó uy lực của quân Pháp của tướng Villars cũng được phục hồi đáng kể vào năm 1712, thể hiện qua việc ông ta chuyển tình thế tuyệt vọng thành chiến thắng trước Vương công Eugène xứ Savoie trong trận Denain.[18][19] Sau thắng lợi tại Denain, Villars tiếp tục phát huy lợi thế của ông ta và gặt hái được thắng lợi.[20] Đồng thời, Quân đội Pháp giành chiến thắng tại Tây Ban Nha, và chiếm được Barcelona.

Cũng như cuộc Chiến tranh Bảy năm (1756 - 1763), nước Anh đã rời bỏ các đồng minh của họ.[21] Họ và Hà Lan kết thúc chiến tranh với Pháp khi họ ký kết Hiệp định Utrecht vào năm 1713. Với Hiệp định Utrecht này, nước Anh đã toàn thắng trong cuộc Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha.[22][23] Dù thành phố Barcelona đã ủng hộ liên quân chống Pháp và khuyến khích Đại Công tước Áo lên ngai vàng Tây Ban Nha vào năm 1705, đã đầu hàng Quân đội Bourbon vào ngày 11 tháng 9 năm 1714 sau một cuộc vây hãm lâu dài, chấm dứt sự hiện diện của quân chống Pháp tại Tây Ban Nha. Tại vùng đất này, nhân dân nhớ đến sự kiện ấy là Ngày Quốc khánh Catalonia.

Nước Áo vẫn còn chống Pháp cho đến năm 1714, khi hai bên thông qua các Hiệp định Rastatt và Baden, chấm dứt cuộc Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha. Tây Ban Nha chậm chạp hơn trong việc phê chuẩn các Hiệp ước hòa bình; họ không chính thức kết thúc những cuộc chiến tranh với nước Áo cho đến năm 1720, sau khi bị đại bại trước tất cả mọi cường quốc trong cuộc Chiến tranh Liên quân bốn nước.

Đối với nước Phổ, đây là một cuộc chiến vì mục đích chính trị, và vì thế Quân đội Phổ phải rời xa Tổ quốc. Vậy nên cống hiến của Quân đội Phổ trong cuộc Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha không được lòng dân cho lắm, khác hẳn với những chiến công của vua Friedrich II Đại Đế trong cuộc Chiến tranh Bảy năm (1756 - 1763) sau này.[24] Tuy nhiên, cuộc Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha đóng vai trò quyết định đối với truyền thống quân sự Phổ hùng cường: các tướng tá Phổ như "Ông già Dessau" đã học hỏi được những bí quyết giúp danh tướng Marlborough đè bẹp Quân đội của vua Louis XIV.[25] Và, "Ông già Dessau" - tức vị danh tướng Leopold - sẽ còn đóng vai trò lớn lao trong cuộc chiến tranh của nước Phổ chống vua Thụy Điển Karl XII sau này.[5] Những sách lược mà ông học được từ danh tướng Marlborough sẽ còn ảnh hưởng không nhỏ đến các chiến thuật của vị minh quân Friedrich II Đại Đế sau này.[26]

Các nước đều kiệt quệ khi cuộc Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha kết thúc.[27]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Cờ của Anh Vương quốc Anh (1701–6)
    Cờ của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Vương quốc Anh (1707–14) The Đạo luật thống nhất 1707 gộp ngai vàng ở Anh và Scotland làm một, hình thành nên Vương quốc Anh.
  2. ^ George Ripley, Charles Anderson Dana, The American Cyclopaedia, New York, 1874, p. 250, "...the standard of France was white, sprinkled with golden fleur de lis...". *[1] The original Banner of France was strewn with fleurs-de-lis. *[2]:on the reverse of this plate it says: "Le pavillon royal était véritablement le drapeau national au dix-huitième siecle...Vue du chateau d'arrière d'un vaisseau de guerre de haut rang portant le pavillon royal (blanc, avec les armes de France)."[3] from the 1911 Encyclopedia Britannica: "The oriflamme and the Chape de St Martin were succeeded at the end of the 16th century, when Henry III., the last of the house of Valois, came to the throne, by the white standard powdered with fleurs-de-lis. This in turn gave place to the famous tricolour."
  3. ^ Lynn, The Wars of Louis XIV: 1667–1714, p.271. The Allied figure is the strength in 1702: The Empire (90.000), the Dutch Republic (60.000 + 42.000 garrison troops), and England (40.000). It does not include minor German states or navies.
  4. ^ Lynn, The Wars of Louis XIV: 1667–1714, p.271.The French strength is a paper figure; actual combat strength was approximately 255.000. To this must be added forces from Spain and, initially, Bavarian and Savoyard contingents
  5. ^ a ă â Jay Luvaas, Frederick the Great on the Art of War, trang 99
  6. ^ Trong trường hợp của Anh, họ còn muốn tuân thủ điều luật về thừa kế năm 1701 trong đó quy định người kế vị ngai vàng ở Anh thừa kế mọi tài sản của người tiền nhiệm, bao gồm cả các thuộc địa. Second Hundred Years' War Tombs, That Sweet Enemy, p.24.
  7. ^ Gerhard Ritter, The Sword and the Scepter: The Prussian tradition, 1740-1890, trang 267
  8. ^ Statistics of Wars, Oppressions and Atrocities of the Eighteenth Century, Matthew White
  9. ^ Wolf, The Emergence of the Great Powers: 1685–1715. p.92
  10. ^ Bill Marshall, France and the Americas: culture, politics, and history: a multidisciplinary encyclopedia. N - Z, index, trang 888
  11. ^ Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha 1702
  12. ^ a ă â Jay Luvaas, Frederick the Great on the Art of War, trang 65
  13. ^ Jay Luvaas, Frederick the Great on the Art of War, trang 321
  14. ^ Christopher Duffy, Frederick the Great: A Military Life, trang XXVI
  15. ^ Christopher M. Clark, Iron kingdom: the rise and downfall of Prussia, 1600-1947, trang 97
  16. ^ Christopher Duffy, Frederick the Great: A Military Life, trang XXVI
  17. ^ Xin lưu ý rằng nước Anh (Great Britain) được hợp nhất vào năm 1707 theo Liên minh giữa nước Anh (England) và Scotland, và nước Anh (Great Britain) đã thay thế nước Anh (England) tham chiến.
  18. ^ David J. Sturdy, Fractured Europe, 1600-1721, trang 363
  19. ^ Gerhard Ritter, The Sword and the Scepter: The Prussian tradition, 1740-1890, trang 268
  20. ^ Christopher Duffy, The fortress in the age of Vauban and Frederick the Great, 1660-1789, trang 44
  21. ^ Gerhard Ritter, The German problem: basic questions of German political life, past and present, trang 22
  22. ^ Robert L. Hayman, Leland Ware, Choosing equality: essays and narratives on the desegregation experience, trang 26
  23. ^ Richard S. Tompson, Great Britain: a reference guide from the Renaissance to the present, trang 43
  24. ^ Christopher M. Clark, Iron kingdom: the rise and downfall of Prussia, 1600-1947, trang 220
  25. ^ Christopher Duffy, Frederick the Great: A Military Life, trang XVI
  26. ^ Christopher Duffy, Frederick the Great: A Military Life, trang 318
  27. ^ Gerhard Ritter, The corrupting influence of power, trang 133

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]