Chiếu dời đô

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chiếu dời đô-bản dịch của Viện khoa học xã hội Việt Nam
Bia Lý Thái Tổ bên sông Sào Khê tại cố đô Hoa Lư, nơi vua ban chiếu dời đô

Chiếu dời đô hay Thiên đô chiếu (遷都詔) là một đoạn văn được Ngô Sỹ Liên ghi lại sớm nhất ở thế kỷ XV trong sách Đại Việt sử ký toàn thư[1], bài văn này được cho rằng do vua Lý Thái Tổ ban hành vào mùa xuân năm 1010 để chuyển kinh đô của nước Đại Cồ Việt từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra thành Đại La (Hà Nội). Theo ý kiến GS Trần Quốc Vượng[2], Chiếu dời đô đã khẳng định được vai trò của kinh đô Thăng Long,[3] nó được coi là tác phẩm khai sáng văn học Hà Nộitriều Lý. Tuy nhiên, chiếu dời đô chưa nêu bật được tinh thần dân tộc[4] và khát vọng độc lập[5], hơn nữa ngôn ngữ sử dụng trong văn bản này mang đượm màu sắc dị đoan, phong thủy.[6]

Văn bản[sửa | sửa mã nguồn]

Chiếu dời đô (Hán văn)

Bản chữ Hán:

昔商家至盤庚五遷。周室迨成王三徙。豈三代之數君徇于己私。妄自遷徙。以其圖大宅中。爲億万世子孫之計。上謹天命。下因民志。苟有便輒改。故國祚延長。風俗富阜。而丁黎二家。乃徇己私。忽天命。罔蹈商周之迹。常安厥邑于茲。致世代弗長。算數短促。百姓耗損。万物失宜。朕甚痛之。不得不徙。
况高王故都大羅城。宅天地區域之中。得龍蟠虎踞之勢。正南北東西之位。便江山向背之宜。其地廣而坦平。厥土高而爽塏。民居蔑昏墊之困。万物極繁阜之丰。遍覽越邦。斯爲勝地。誠四方輻輳之要会。爲万世帝王之上都。
朕欲因此地利以定厥居。卿等如何。

Bản phiên âm Hán-Việt:

Tích Thương gia chí Bàn Canh ngũ thiên, Chu thất đãi Thành Vương tam tỉ. Khởi Tam Đại chi sổ quân tuẫn vu kỷ tư, vọng tự thiên tỉ. Dĩ kỳ đồ đại trạch trung, vi ức vạn thế tử tôn chi kế; thượng cẩn thiên mệnh, hạ nhân dân chí, cẩu hữu tiện triếp cải. Cố quốc tộ diên trường, phong tục phú phụ. Nhi Đinh Lê nhị gia, nãi tuẫn kỷ tư, hốt thiên mệnh, võng đạo Thương Chu chi tích, thường an quyết ấp vu tư, trí thế đại phất trường, toán số đoản xúc, bách tính hao tổn, vạn vật thất nghi. Trẫm thậm thống chi, bất đắc bất tỉ.
Huống Cao Vương cố đô Đại La thành, trạch thiên địa khu vực chi trung; đắc long bàn hổ cứ chi thế. Chính Nam Bắc Đông Tây chi vị; tiện giang sơn hướng bối chi nghi. Kỳ địa quảng nhi thản bình, quyết thổ cao nhi sảng khải. Dân cư miệt hôn điếm chi khốn; vạn vật cực phồn phụ chi phong. Biến lãm Việt bang, tư vi thắng địa. Thành tứ phương bức thấu chi yếu hội; vi vạn thế đế vương chi thượng đô.
Trẫm dục nhân thử địa lợi dĩ định quyết cư, khanh đẳng như hà?

Bản dịch tiếng Việt:

Xưa nhà Thương đến đời Bàn Canh năm lần dời đô[7], nhà Chu đến đời Thành Vương ba lần dời đô[8], há phải các vua thời Tam Đại[9]; ấy theo ý riêng tự tiện dời đô. Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh. Thế mà hai nhà Đinh, lại theo ý riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo việc cũ Thương Chu, cứ chịu yên đóng đô nơi đây, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ tổn hao, muôn vật không hợp. Trẫm rất đau đớn, không thể không dời.
Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương[10], ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng chầu hổ phục, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời.
Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào?
(Bản dịch của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, in trong Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993)

Ý nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Có ý kiến cho rằng chiếu dời đô đã thể hiện những ý tứ sâu sắc, tầm nhìn thời đại của một vị vua Đại Cồ Việt 1000 năm về trước khi ông chọn Đại La làm kinh đô mới để mưu nghiệp lớn, tính kế phồn vinh, trường kỳ cho muôn đời sau. Bản chiếu nêu bật được vai trò kinh đô Thăng Long xứng đáng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của quốc gia. Thời gian sau đó, Thăng Long vẫn là kinh đô của các triều Trần, nhà Hậu Lê, nhà Mạc, Lê Trung Hưng và đang là Thủ đô của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thăng Long thực sự là “nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời”.[11]

Nhận xét về kinh đô Thăng Long, sử gia Ngô Thì Sỹ trong Đại Việt sử ký tiền biên viết:

“Núi là vạt áo che, sông là dải đai thắt, sau lưng là sông nước, trước mặt là biển, địa thế hùng mạnh mà hiếm, rộng mà dài, có thể là nơi vua ở hùng tráng, ngôi báu vững bền, hình thể Đại Việt không nơi nào hơn được nơi này”.

Tuy nhiên bên cạnh đó cũng có ý kiến cho rằng chiếu dời đô lại nổi bật những nhược điểm khiến nó không thể trở thành một áng văn tiêu biểu của dân tộc Việt Nam, thể hiện ở các yếu tố sau:[12]

  • Tinh thần dân tộc: là văn bản khai sinh ra kinh đô Thăng Long nhưng chiếu dời đô không đề cập đến truyền thống đấu tranh giành độc lập dân tộc mà các triều vua Việt Nam trước đó đã gây dựng. Bản chiếu cũng không nêu vai trò của kinh đô Hoa Lư và các kinh đô trước đó như Phong Châu, Mê Linh, Long Biên. Việc này có thể lí giải do đây là dời đô, chứ không phải đấu tranh giữ nước. Lúc này đất nước cần thái bình, trăm dân cần no ấm, vậy thì vai trò của kinh đô Hoa Lư đã hết. Đồng thời ta thấy vai trò của những Phong Châu, Mê Linh, Long Biên đều là trấn giữ đất nước khỏi giặc thù, tương tự Hoa Lư. Ý kiến khác cho rằng Lý Thái Tổ lấy việc làm của các triều đại của cường quyền đế quốc Trung Hoa để noi theo. Điều này trước đây được coi là bình thường trong văn học Trung Đại Việt Nam, lấy Trung Quốc ra làm tấm gương. Có thể thấy điều ấy qua những tác phẩm như Tỏ Lòng của Phạm Ngũ Lão, Bảo kính cảnh giới của Nguyễn Trãi, v.v... Tuy nhiên, Lý Công Uẩn gọi đô hộ Cao Biền là "Cao Vương", gọi thành Đại La là "đô cũ". Điều này khiến chiếu dời đô chưa toát nên được tinh thần dân tộc chủ đạo mà các áng văn khác như Nam quốc sơn hà ("sông núi nước Nam vua Nam ở") và Bình Ngô Đại Cáo ("từ... Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập") đã có. Chiếu dời đô chỉ có ý nghĩa trong nội bộ quốc gia mà không thể ảnh hưởng ở tầm quốc tế.
  • Khát vọng độc lập: Các nhà nghiên cứu đều cho rằng việc lập đô của các nhà Đinhnhà Tiền Lê không phải là tự theo ý riêng, thiển cận.[13] Trong bối cảnh vừa thoát khỏi thời Bắc thuộc, chính quyền còn non trẻ, kinh đô Cổ Loa không còn trấn áp được loạn cát cứ thì việc lập đô ở Hoa Lư trở lên lợi hại hơn cả. Người Việt đã xây dựng kinh đô Hoa Lư của riêng mình mà không theo một hình mẫu nào của Trung Hoa.[14]. Sự kiện ban Chiếu dời đô vừa khẳng định vừa phủ định vai trò của kinh đô Hoa Lư. Tuy nhiên việc vua Lý Thái Tổ chê trách nhà Lê có thể hiểu được, vì khi Lý Công Uẩn lên ngôi, nhà Lê đã suy và không còn là tấm gương nên noi theo, nói tới nữa. Sự xuất hiện của chiếu dời đô là bằng chứng cho thấy đất nước đã phát triển sang trang mới. Là mốc son đánh dấu lịch sử hình thành thủ đô Hà Nội của Việt Nam trên cơ sở, nền tảng kinh đô Hoa Lư.[15]
  • Màu sắc dị đoan, phong thuỷ: Chiếu dời đô được viết với nội dung mang đượm màu sắc đầy dị đoan, phong thuỷ. Tuy nhiên, nhận định này không hợp lý vì trong bất kì lần dời đô nào ở nước ta cũng phải dựa theo thế phong thuỷ mà định, ví dụ như Vua Hùng tìm đất đóng đô dựng nước. Và phong thuỷ không liên quan đến quan điểm dị đoan, mê tín; thực chất đây là một bộ môn khoa học về môi trường sống, một nhánh của kiến trúc. Chẳng qua do cách giải thích của các thầy phong thuỷ nên nó bị đánh đồng với mê tín dị đoan.[16]
  • Không phù hợp với đạo lý dân tộc: Lý Thái Tổ ám chỉ các triều vua nhà Đinh, nhà Tiền Lê tự theo ý riêng mình mà vận mệnh ngắn ngủi trong khi chính ông là người thừa hưởng nền tảng độc lập mà các triều đại này để lại. Quan điểm này không phù hợp với đạo lý uống nước nhớ nguồn của người Việt. Thực tế rất nhiều anh hùng đã giành độc lập như Hai Bà Trưng, Lý Nam Đế, Ngô Quyền,... mà triều đại do họ gây dựng tồn tại rất ngắn nhưng lịch sử luôn đánh giá công bằng. Bản chiếu dời đô cũng không thấy sự xuất hiện của vị vua Việt Nam nào được vua Lý nêu tới. Nhưng như đã biết, vốn triều nhà Tiền Lê đã mục nát, dân chúng oán thán, việc Lý Công Uẩn mượn cớ nhà Tiền Lê mệnh không dài, cũng chỉ là thuận theo lòng dân mà thôi.

Việc xuất hiện bài chiếu có ý nghĩa rất nhiều đối với lịch sử Hoa LưThăng Long. Nó làm nên tính chất trọng đại của hành trình 1000 năm lịch sử. Đó là một áng văn của thời khắc lịch sử từ Hoa Lư đến Thăng Long - một bước ngoặt hào hùng của dân tộc Việt Nam.[17]

Hành trình dời đô[sửa | sửa mã nguồn]

Hơn 1 năm sau khi lên ngôi Hoàng đế, tháng 7 năm Canh Tuất, Lý Thái Tổ bắt đầu dời đô từ Hoa Lư về Đại La. Việc tìm đất, nghị bàn đến việc chuẩn bị để dời đô diễn ra tương đối khẩn trương. Từ Hoa Lư về thành Đại La có thể đi theo đường bộ hoặc theo đường thuỷ. Sử cũ không ghi chép chi tiết nhà Lý dời đô bằng đường nào. Các nhà nghiên cứu đã kết luận: nhà Lý dời đô bằng đường thuỷ. Và chỉ có dời đô bằng đường thuỷ thì mới an toàn và tải được cả bộ máy triều đình đông đảo cùng vật chất bảo đảm đồ sộ đi kèm.[18]

Năm Thái Bình thứ 7 (976) dưới thời vua Đinh Tiên Hoàng đã có việc buôn bán với nước ngoài bằng thuyền. Các nhà nghiên cứu khẳng định Lý Công Uẩn dời đô cũng cần đưa đội thuyền đi theo. Đoàn thuyền xuất phát từ bến Ghềnh Tháp (nay là khu vực giữa phủ Vườn Thiên và nhà bia Lý Thái Tổ ở khu di tích cố đô Hoa Lư). Rồi thuyền vào sông Sào Khê, qua cầu Đông, cầu DềnHoa Lư để ra bến đò Trường Yên vào sông Hoàng Long. Đi tiếp đến Gián Khẩu thì rẽ vào sông Đáy. Từ sông Đáy lại rẽ vào sông Châu Giang. Đến Phủ Lý đoàn thuyền ngược sông Hồng, rồi vào sông Tô Lịch trước cửa thành Đại La.[19]

Như vậy hành trình dời đô đi qua 6 con sông khác nhau, trong đó các hành trình trên sông Sào Khê, sông Hoàng Long, sông Châu Giang là đi xuôi dòng, trên sông Đáy, sông Hồng, sông Tô Lịch là đi ngược dòng. Sở dĩ nhà Lý đi bằng đường sông chứ không đi bằng đường biển cũng là bảo đảm an toàn vì thuyền phải tải nặng không chịu nổi sóng dữ ở biển.

Từ Hoa Lư tới Thăng Long[sửa | sửa mã nguồn]

Khác với các kinh đô chính thống khác ở Việt Nam, kinh đô Hoa Lư có một vai trò lịch sử đặc biệt: là nơi đánh dấu sự ra đời kinh thành Thăng Long - Hà Nội, thủ đô hiện tại của đất nước Việt Nam. Mốc son Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long mà bằng chứng là chiếu dời đô được xác định là thời điểm khai sinh lịch sử thủ đô mặc dù với việc mở rộng diện tích phần lớn các vùng đất đế đô của Việt Nam có trước Hoa Lư như Mê Linh (Hai Bà Trưng), Long Biên (nhà Tiền Lý), Cổ Loa (nhà Ngô) nay đều thuộc về Hà Nội.

Hoa Lư gắn liền với sự nghiệp của 2 vua đầu triều đại nhà Lý. Vua Lý Thái Tổ được triều đình Hoa Lư tiến cử lên ngôi thay nhà Tiền Lê. Vì thế mà hệ thống chính trị và cơ sở vật chất của kinh thành Thăng Long sau này đều thừa hưởng từ kinh đô Hoa Lư trước đó. Để tưởng niệm công lao đặt nền móng xây dựng độc lập tự chủ của đất nước và nhớ đến Cố đô Hoa Lư, nhà Lý đã xây dựng nhiều công trình kiến trúc giống ở Hoa Lư tại khu vực ở Thăng Long mà chúng vẫn tồn tại đến tận nay như: Ô Cầu Dền, phố Tràng Tiền, phố Cầu Đông, chùa Một Cột, ngã ba Bồ Đề, cống Trẹm, tháp Báo Thiên, phố Đình Ngang...[20][21] Sách Đại Nam nhất thống chí quyển XIV tỉnh Ninh Bình, mục cổ tích chép: “Đô cũ nhà Đinh, nhà Lê ở xã Trường Yên Thượng và Trường Yên Hạ về phía tây bắc huyện Gia Viễn, có nội thành và ngoại thành, có cửa xây bằng đá, lại có các danh hiệu: cầu Đông, cầu Dền, cầu Muống, Tràng Tiền, chùa Tháp, chùa Nhất Trụ,... nền cũ vẫn còn. Về sau Lý Thái Tổ dời đô đến Thăng Long đều dùng theo các danh hiệu ấy...”.

Phố Cầu Đông ở Hoa Lư, nơi có nhà thầy bói và chợ Cầu Đông
Chùa Bà Ngô ở cố đô Hoa Lư được xây dựng từ thời Vua Đinh Tiên Hoàng
Chùa Một Cột ở Thăng Long do Vua Lý Thái Tông cho xây dựng
Phố Cầu Đông ở Thăng Long nay chỉ còn chợ Đồng Xuân
Chùa Bà Ngô ở Hà Nội được xây dựng vào thời vua Lý Thần Tông

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lý Công Uẩn và Chiếu dời đô, áng văn bất hủ
  2. ^ Xem bài "Chiếu Dời Đô" trang 155 cuốn "Hà Nội nghìn xưa" tác giả Trần Quốc Vượng - Vũ Tuân Sán NXB Hà Nội
  3. ^ Nằm ở trung tâm châu thổ sông Hồng, đất đai bằng phẳng, cao ráo, sáng sủa không giống với kinh đô Hoa Lư và các kinh đô khác bị núi non bao phủ mặc dù nằm ở trung tâm hình học của đất nước thời bấy giờ
  4. ^ Lý Thái Tổ lấy việc làm của các triều đại của cường quyền Trung Hoa để noi gương, Ông gọi đô hộ phủ Cao Biền là "Cao Vương", gọi thành Đại La là "đô cũ"
  5. ^ Việc lập đô của các nhà Đinhnhà Tiền Lê không phải là tự theo ý riêng, phải xét trong bối cảnh vừa thoát khỏi thời Bắc thuộc, chính quyền còn non trẻ, hơn nữa đây là kinh đô tập quyền đầu tiên của người Việt
  6. ^ Kinh đô Văn Lang đến Thăng Long Hà Nội
  7. ^ Năm lần dời đô: Vua Thang (Thành Thang) đóng đô ở phía đông nam huyện Thương Khâu (thuộc tỉnh Hà Nam, Trung Quốc bây giờ). Trọng Đinh dời đô đến huyện Thành Cao (thuộc tỉnh Hà Nam). Hà Đản Giáp đời đô đến phủ Chương Đức (cũng thuộc tỉnh Hà Nam). Tổ Ất dời đô đến phủ Thuận Đức (tỉnh Sơn Tây bây giờ). Bàn Canh dời đô đến huyện Yên Sư (hay Ân Sư thuộc tỉnh Hà Nam)
  8. ^ Ba lần dời đô: Chu Văn Vương đóng đô ở phía đông tỉnh Thiểm Tây. Chu Vũ Vương dời đô đến huyện Tương Yên (tỉnh Thiểm Tây). Chu Thành Vương dời đô đến huyện Lạc Dương (tỉnh Hà Nam).
  9. ^ Thời Tam Đại: Ba nhà Hạ, Thương, Chu trong lịch sử Trung Quốc.
  10. ^ Tức Cao Biền, là Tiết độ sứ Tĩnh Hải quân (quan đô hộ Giao Châu theo cách gọi trước) của nhà Đường vào khoảng các năm 864-868. Cao Biền đắp thêm thành Đại La vào khoảng năm 866. Xem thêm Hà Nội.
  11. ^ Lý Công Uẩn - Chiếu dời đô
  12. ^ Giáo án điện tử
  13. ^ Đọc lại "Chiếu dời đô" để thấy tầm nhìn quy hoạch của ông cha
  14. ^ Từ Hoa Lư đến Thăng Long : Sự chuyển dời tất yếu lịch sử
  15. ^ CHIẾU DỜI ĐÔ (LÝ THÁI TỔ)
  16. ^ [1]
  17. ^ CHIẾU DỜI ĐÔ (LÝ THÁI TỔ)
  18. ^ Nhà Lý dời đô bằng đường nào?
  19. ^ Giả thiết bằng ảnh vệ tinh: Lộ trình dời đô của Vua Lý
  20. ^ Kinh đô Hoa Lư-Thủ đô nước Đại Cồ Việt
  21. ^ Cố đô Hoa Lư (Nguyễn Văn Trò) – NXB Văn hóa dân tộc

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]