Chi Cỏ xạ hương

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chi Cỏ xạ hương
Thymus vulgaris.jpg
Cỏ xạ hương lá rộng (Thymus pulegioides)
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
(không phân hạng) Angiospermae
(không phân hạng) Eudicots
(không phân hạng) Asterids
Bộ (ordo) Lamiales
Họ (familia) Lamiaceae
Chi (genus) Thymus
L.
Các loài
Khoảng 350, xem văn bản:

Chi Cỏ xạ hương hay chi Bách lí hương (danh pháp khoa học: Thymus) là một chi chứa khoảng 350[1] loài cây thân thảo hay cây bụi nhỏ sống lâu năm, có hương thơm, cao tới 40 cm, thuộc họ Lamiaceae. Các thành viên trong họ này là bản địa của khu vực ôn đới châu Âu, Bắc Phichâu Á. Thân của chúng nói chung nhỏ và cứng; lá thường xanh ở phần lớn các loài, mọc thành từng cặp đối, hình trứng, mép lá nguyên, nhỏ, dài 4–20 mm, thường có hương thơm. Hoa mọc thành cụm hình đầu, dày dặc ở đầu cành, với đài hoa không cân đối, môi trên 3 thùy, môi dưới sứt; đài hoa hình ống, dài 4–10 mm, màu trắng, hồng hay tía.

Tên gọi khoa học của chi này có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp cổ để chỉ một loại cây thân thảo có hương thơm nhưng không rõ là loài nào.

Hiện tại vẫn tồn tại một số sự lộn xộn trong việc phân loại và đặt tên khoa học của một số loài và Margaret Easter đã đề xuất một danh sách các từ đồng nghĩa cho các loài được gieo trồng cũng như các giống cây trồng[2].

Một vài thành viên trong chi được trồng làm cây gia vị hay cây cảnh, và nói chung chúng chỉ gọi đơn giản là cỏ xạ hương hay bách lí hương theo tên gọi của loài được biết đến nhiều nhất là Thymus vulgaris.

Các loài trong chi Thymus bị ấu trùng của một số loài côn trùng cánh vẩy trong bộ Lepidoptera (bướm và nhậy) phá hại, như Chionodes distinctellaColeophora spp. như C. lixella, C. niveicostella, C. serpylletorumC. struella.

Một số loài[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phần hóa học trong lá làm nguyên liệu[sửa | sửa mã nguồn]

Cỏ xạ hương chứa tới 0,1-0,6 % tinh dầu với thành phần cơ bản là thimol — tới 30 %[3]carvacrol. Người ta cũng phát hiện một số hợp chất có tính chất thuộc da, chất có vị đắng, các khoáng chất, gôm, các sắc tố hữu cơ, các axít hữu cơ như axít ursolicaxít oleic. Các terpen không đáng kể.

Ứng dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Lá cỏ xạ hương được duùng làm gia vị trong ẩm thực, trong công nghiệp sản xuất rượu mùi và đồ hộp. Nó cũng là một thành phần của một công thức chế gia vị, gọi là Herbes de Provence[4], được nghĩ ra trong thập niên 1970.

Tinh dầu cỏ xạ hương được dùng làm chất tạo mùi cho một số loại hóa mĩ phẩm, như trong xà phòng, sáp, kem, thuốc đánh răng, cũng như trong công nghiệp dược phẩm. Nó cũng là một loại thực vật cung cấp mật và phấn hoa cho ong khá tốt. Khi được trồng làm cây cảnh nó hay được trồng trong các vườn hoa do nó có thời kỳ ra và nở hoa khá dài, mùi thơm dịu.

Trong y học[sửa | sửa mã nguồn]

Từ thời tiền sử, một số dân tộc đã cho rằng cỏ xạ hương là loại cỏ diệu kì, không chỉ có khả năng làm người ta khỏe mạnh mà còn có khả năng cải tử hoàn sinh[cần dẫn nguồn]. Thimol, ban đầu được chiết ra từ cỏ xạ hương, cũng như nhiều chế phẩm khác từ các loài thực vật giàu chất này, được sử dụng như là thuốc tẩy giun, chất khử trùngthuốc gây tê. Thuốc từ nước sắc và thuốc bột tán nhỏ được sử dụng trong y học cổ truyền dưới dạng gạc để băng bó [5] trong điều trị viêm rễ thần kinh hay viêm dây thần kinh tọa. Trong dạng thuốc sắc và cao với mật ong nó "thanh lọc ngực và phổi", có khả năng làm kéo và long đờm, làm dịu bệnh, dùng trong điều trị ho và viêm cuống phổi[3]. Nó cũng có khả năng kích thích tiêu hóa. Khi dùng dễ ngâm trong nước tắm, nó có lợi cho điều trị các chứng bệnh thần kinh, tê thấp, viêm rễ thần kinh, các dạng phát ban ngoài da, các chứng bệnh liên quan tới khớp xương và cơ. Khi dùng làm thuốc bôi ngoài da, người ta sử dụng hỗn hợp có chứa tinh dầu cỏ xạ hương.

Cỏ xạ hương cũng tỏ ra hiệu quả khi dùng chống nấm móng tay[6]. Tinh dầu cỏ xạ hương cũng được dùng trong các liệu pháp điều trị bệnh phổi. Dịch chiết lỏng hay nước luộc từ lá cỏ xạ hương được dùng như là thuốc long đờm.

Thymol, với tính chất khử trùng, là thành phần chính trong nước rửa miệng Listerine[7]

Điều chế nguyên liệu[sửa | sửa mã nguồn]

Để dùng vào mục đích điều trị bệnh, người ta dùng các cành non có lá, được thu hoạch khi nở hoa rộ, loại bỏ các loại cỏ khác lẫn vào, đem phơi khô trong bóng râm với lớp dày 5–7 cm trên giấy hay vải, thường xuyên đảo cho khô đều. Sau đó đem đập vụn và rây để loại bỏ các cành to đã hóa gỗ. Bảo quản tại nơi khô và thoáng khí không quá 2 năm.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Thymus Linnaeus”. Flora of China. 
  2. ^ Mrs Margaret Easter. “Thymus Synonyms”. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2008. 
  3. ^ a ă Thymus Vulgaris. PDR for Herbal Medicine. Montvale, NJ: Medical Economics Company. tr. 1184.
  4. ^ Francis Laget, "From its Birthplace in Egypt to Marseilles, an Ancient Trade: ‘Drugs and Spices’" Diogenes 52:131 (2005) tóm tắt doi:10.1177/0392192105055941, trang 34.
  5. ^ Grieve Maud. Thyme. A Modern Herbal. Phiên bản hypertext của ấn bản năm 1931. Truy cập 9-2-2008.
  6. ^ Ramsewak R. S. và ctv., In vitro antagonistic activity of monoterpenes and their mixtures against 'toe nail fungus' pathogens. Phytother Res. 4-2003; 17(4):376-9.
  7. ^ Pierce Andrea. 1999. American Pharmaceutical Association Practical Guide to Natural Medicines. New York: Nhà in Stonesong, tr. 338-340.