Chi Chó

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Canis
Thời điểm hóa thạch: thế Trung Tân đến thế Toàn Tân 9–0Ma
[1]
Golden Jackal sa02.jpg
Chó rừng lông vàng, Canis aureus
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Carnivora
Họ (familia) Canidae
Phân họ (subfamilia) Caninae
Chi (genus) Canis
Linnaeus, 1758
Species

Chi Chó (Canis) là một chi sinh vật bao hàm 7-10 loài vật hiện còn tồn tại (tỉ như chó nhà, chó sói, chó sói đồng cỏ Bắc Mỹ, chó rừng) và nhiều loài sinh vật khác đã tuyệt chủng.

Từ nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Tên khoa học của chi Chó (Canis) có nghĩa là "chó" trong tiếng La Tinh. Trong tiếng Anh, tính từ canine cũng bắt nguồn từ tính từ caninus của tiếng La Tinh ("thuộc về loài chó"). Danh từ "canine" hay "canine tooth" trong tiếng Anh cũng dùng để ám chỉ răng nanh vì chó có răng nanh rất to - dùng để cắn chết con mồi.

Chó sói, chó nhà và chó rừng Úc[sửa | sửa mã nguồn]

Chó sói, chó nhàchó rừng Úc là các Phân loài của Canis lupus. Phân loài chó sói Á-Âu đươc đặt tên khoa học là Canis lupus lupus nhằm phân biệt với các phân loài chó sói khác như chó sói Iran (Canis lupus pallipes), chó sói Ả Rập (Canis lupus arabs) hay chó sói Tây Tạng (Canis lupus chanco). Chó sói Á-Âu tỏ ra có quan hệ huyết thống gần gũi hơn cả với loài chó nhà hiện nay (Canis lupus familiaris).

Một số chuyên gia cho rằng một số phân loài của Canis lupus thật ra là các loài riêng biệt trong chi Chó. Danh sách các loài "nghi ngờ" này bao hàm cả chó sói Himalaya, chó sói Ấn Độ, sói đỏ ở Bắc Mỹ và chó sói phương Đông.

Chó rừng Úc hay chó rừng Dingo (C. lupus dingo) và chó nhà (C. lupus familiaris) cũng được xem là một phân loài của Canis lupus mặc dù ít ai nghĩ hay đề cập tới chúng với cái tên "chó sói".[2]

Chó sói đồng cỏ Bắc Mỹ, các loài "chó sói" khác và chó rừng[sửa | sửa mã nguồn]

Không chỉ có loài C. lupus được gọi tên là chó sói mà một số loài khác trong chi này cũng vậy, tuy nhiên phần lớn trong số chúng đã tuyệt chủng hoặc ít được công chúng biết đến. Một trong số đó, loài chó sói Canis dirus tuyệt chủng cách đấy 10 nghìn năm được biết đến khá rộng rãi nhờ hàng nghìn hóa thạch của chúng được tìm thấy và trưng bày tại hồ hắc ín La Brea tại Los Angeles, California.

Canis dirus là một ví dụ điển hình cho thấy từ "chó sói" không được định nghĩa một cách chặt chẽ, vì nhiều loại "chó" vẫn được gọi là chó sói dù chúng không thuộc loài chó sói "chuẩn" Canis lupus. Các ví dụ khác là loài chó sói Ethiopia Canis simensis; loài này từng trải qua nhiều lần thay tên đổi họ vì hình thái nhỏ con dễ khiến nó bị nhìn nhầm là chó rừng hay cáo, tuy nhiên các kết quả nghiên cứu di truyền và phân loài học đã đem đến cái tên chó sói Ethiophia.

Các loài chó còn lại, với kích thước nhỏ hơn chó sói nhiều, được gọi là chó rừng (jackal) hay chó sói đồng cỏ Bắc Mỹ (coyote). Mặc dù chúng không có quan hệ huyết thống gần gũi với nhau hơn là với chó sói, dầu sao chúng vẫn là thành viên của chi Chó và vì vậy quan hệ huyết thống của chúng gần với chó sói và chó nhà hơn là với các loài cáo, sói bờm hay các loài "chó" không thuộc chi Chó khác. Cái tên "chó rừng" (jackal) được áp dụng cho 3 loài của chi Chó: Chó rừng vằn hông (Canis adustus), Chó rừng lưng đen (Canis mesomelas)Chó rừng lông vàng (Canis aureus), các loài này có thể được tìm thấy ở Bắc Phi, bán đảo Ban Căng, Tây Nam Á và vùng phía Nam của Trung Á.

Khu vực Bắc Mỹ chỉ có một loài chó "nhỏ" duy nhất là chó sói đồng cỏ Bắc Mỹ, loài này lại được phân bổ hết sức rộng rãi và chiếm lĩnh các khu vực định cư của chó sói trước đây. Chúng có thể được tìm thấy ở lục địa Canada, ở tất cả các bang lục địa của Hoa Kỳ, Mêhicô (trừ bán đảo Yucatán), và ở khu vực Trung Tâm và ven bờ Thái Bình Dương của Trung Mỹ, xuống tận tới vùng phía Bắc của Panama.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Canis Linnaeus 1758 in The Palaeobiology Database
  2. ^ Wilson, Don E.; Reeder, DeeAnn M. biên tập (2005). “Genus Canis. Mammal Species of the World . Baltimore: Nhà in Đại học Johns Hopkins, 2 tập (2.142 trang). ISBN 978-0-8018-8221-0. OCLC 62265494.