Chi Hoàng dương

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chi Hoàng dương
Buxus sempervirens.jpg
Hoàng dương châu Âu (Buxus sempervirens)
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
(không phân hạng) Angiospermae
(không phân hạng) Eudicots
Bộ (ordo) Buxales
Họ (familia) Buxaceae
Chi (genus) Buxus
L., 1753
Các loài
Khoảng 70 loài; xem văn bản

Buxus là một chi của khoảng 70 loài trong họ Hoàng dương (Buxaceae). Tên gọi chung của chúng là hoàng dương.

Các loài hoàng dương có nguồn gốc ở miền tây và miền nam châu Âu, miền tây nam, nam và đông châu Á, châu Phi, Madagascar, khu vực phía bắc Nam Mỹ, Trung Mỹ, MexicoCaribe, với phần lớn các loài sinh sống trong khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới; chỉ có các loài ở châu Âu và một số loài châu Á là chịu được lạnh. Trung tâm đa dạng có tại Cuba (khoảng 30 loài), Trung Quốc (17 loài) và Madagascar (9 loài).

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Chúng là các cây bụi hay cây gỗ nhỏ thường xanh lớn chậm, cao khoảng 2–12 m (ít khi tới 15 m). Các lá mọc đối, hình từ tròn tới mũi mác, bóng mặt; ở phần lớn các loài lá khá nhỏ, thường dài 1,5–5 cm và rộng 0,3-2,5 cm, nhưng ở B. macrocarpa thì lá dài tới 11 cm và rộng 5 cm. Hoa nhỏ màu vàng lục, đơn tính cùng gốc (cả hoa đực lẫn hoa cái trên cùng một cây). Quả là loại quả nang nhỏ dài 0,5-1,5 cm (tới 3 cm ở B. macrocarpa), chứa vài hạt nhỏ.

Chi này được chia thành ba phân chi khác nhau về mặt di truyền, mỗi phân chi có mặt tại các khu vực khác nhau, với các loài Á-Âu ở một phân chi, các loài châu Phi (ngoại trừ các loài ở tây bắc châu lục này) và Madagascan thuộc phân chi thứ hai và các loài châu Mỹ thuộc phân chi thứ ba. Các loài châu Phi và châu Mỹ về mặt di truyền là gần gũi với nhau hơn các loài Á-Âu (Balthazar và ctv, 2000).

Một số loài[sửa | sửa mã nguồn]

Biểu tượng và sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng dương nói chung được sử dụng làm hàng rào hay cây cảnh tạo hình, gỗ rất nặng của nó có giá trị trong chạm khắc gỗ và làm chữ in bằng gỗ trong in ấn. Hoa rất nhỏ của chúng có nghĩa là hoàng dương được trồng chủ yếu vì tán lá của chúng.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Balthazar M. von, Peter K. Endress P. K. và Qiu Y.-L. 2000. Phylogenetic relationships in Buxaceae based on nuclear internal transcribed spacers and plastid ndhF sequences. Int. J. Plant Sci. 161(5): 785–792 (có sẵn trực tuyến).

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Thư viện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]