Chi Hoàng liên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chi Hoàng liên
Coptis occidentalis.jpg
Hoa của Coptis occidentalis
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
(không phân hạng) Angiospermae
(không phân hạng) Eudicots
Bộ (ordo) Ranunculales
Họ (familia) Ranunculaceae
Phân họ (subfamilia) Coptidoideae
Tông (tribus) Coptideae
Chi (genus) Coptis
Salisb.
Các loài
Xem văn bản.
Lá của Coptis aspleniifolia

Chi Hoàng liên (danh pháp khoa học Coptis) là một chi của khoảng 10–15 loài thực vật có hoa trong họ Mao lương (Ranunculaceae), có nguồn gốc ở châu ÁBắc Mỹ.

Một số loài
Quả của Coptis occidentalis.

Sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Hoạt chất chính trong các loài hoàng liên này là berberine, do vậy các loài hoàng liên này đều có thể sử dụng làm thuốc.

Coptis teeta được sử dụng như là một loài cây thuốc trong khu vực Himalaya của Ấn Độ, trong vai trò của một loại thuốc điều trị chứng khó tiêu. Tại Việt Nam và Trung Quốc người ta cũng dùng hoàng liên làm thuốc với các tác dụng kháng vi khuẩn đối với một số loài trong các chi Streptococcus, Neisseria, Staphylococcus, Shigella hay kháng virus, chống nấm (Leptospira spp.), hạ huyết áp, tác dụng nội tiết trong vai trò của chất kháng adrenaline, với hệ mật: lợi mật và có thể làm tăng việc tạo nên mật cũng như làm giảm dộ dính của mật, tác dụng lên hệ thần kinh trung ương. Berberine khi dùng liều nhỏ có tác dụng kích thích vỏ não, nhưng liều lớn lại tăng sự ức chế hoạt động của vỏ não v.v.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]