Chi Mít

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chi Mít
Artocarpus altilis.jpg
Xa kê (Artocarpus altilis)
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
(không phân hạng) Angiospermae
(không phân hạng) Eudicots
Bộ (ordo) Rosales
Họ (familia) Moraceae
Tông (tribus) Artocarpeae
Chi (genus) Artocarpus
J.R.Forster & G.Forster
Các loài
Xem văn bản

Chi Mít hay chi Chay (danh pháp khoa học: Artocarpus) là một chi của khoảng 60 loài cây thân gỗ sinh sống trong khu vực Đông Nam Á và các đảo trên Thái Bình Dương, thuộc về họ Dâu tằm (Moraceae). Chi này có quan hệ gần và khó phân biệt với chi Ficus chứa các loài đa, sanh, si, sung, đề. Tên gọi chung phổ biến của các loài là mít, chay hay xa kê.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Phần lớn các loài trong chi này là các cây gỗ (một ít là cây bụi) cao 15–20 m; với nhựa mủ, trong đó lá, thân và cành con đều có thể sinh ra nhựa màu trắng sữa.

Các lá thường xanh hay sớm rụng có lá kèm, mọc so le hay vòng hoặc xếp thành hai dãy, dao động từ nhỏ và nguyên (như ở Artocarpus integer) tới lớn và xẻ thùy (như ở Artocarpus communis). Các lá hình tim của Artocarpus communis kết thúc với chóp lá dài và nhọn.

Các loài của chi này là đơn tính cùng gốc, với các hoa đơn tính của cả hai giới đều có mặt trên cùng một cây. Các cụm hoa sinh ra trên thân hay các cành chính. Các hoa đực mọc thành bông đuôi sóc. Các hoa cái nhỏ, màu hơi xanh lục mọc thành các cụm hoa ngắn, nhiều thịt trên một đế hoa lồi. Sau khi thụ phấn chúng phát triển thành quả tụ có thể rất lớn, gồm nhiều quả bế hợp thành. Bầu nhụy thượng. Hạt không có nội nhũ

Một vài loài trong chi này có quả ăn được và được trồng khá phổ biến, như xa kê (Artocarpus altilis), mít tố nữ (Artocarpus integer), mít (Artocarpus heterophyllus) và marang (Artocarpus odoratissimus). Trong sửa đổi gần đây nhất của chi Artocarpus, loài hay thay đổi Artocarpus communis được coi là chứa cả ba loài xa kê: Artocarpus altilis, Artocarpus mariannensisArtocarpus camansi.

Tên gọi 'Artocarpus' có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp 'artos' ( = bánh mì) và 'karpos' ( = quả). Tên gọi khoa học này được Johann Reinhold ForsterJ. Georg Adam Forster, một đội các nhà thực vật học là cha và con trên boong tàu HMS Resolution trong chuyến thám hiểm lần hai của thuyền trưởng James Cook.

Xa kê và mít được trồng khá phổ biến tại Đông Nam Á. Các loài khác được trồng có tính chất địa phương hơn để lấy gỗ, quả hay hạt ăn được. Tại Việt Nam hiện đã biết có 13 loài.

Các loài[sửa | sửa mã nguồn]

Nghiên cứu phát sinh loài gần đây, dựa trên kiểu sắp xếp lá, các đặc trưng giải phẫu lá và lá kèm, chỉ ra sự tồn tại của ít nhất là 2 phân chi trong chi Artocarpus:

  • Phân chi Artocarpus: Bao hoa của quả là hợp sinh một phần.
  • Phân chi Pseudojaca: Bao hoa hợp sinh hoàn toàn.

Chi Prainea có quan hệ họ hàng gần với phân chi Pseudojaca và một số nhà nghiên cứu coi nó như là phân chi thứ ba của chi Artocarpus. Danh sách một số loài dưới đây là tuân theo cách hiểu truyền thống.

Quả mít (Artocarpus heterophyllus) trên cây

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chi Mít trên Quần thực vật Trung Hoa
  • Các phân chi có thể của Artocarpus
  • Nyree Conrad Zerega - Dissertation Topic: Phylogeny of the genus Artocarpus (Moraceae), with a focus on the systematics, genetics, conservation, and biogeography of breadfruit
  • Zerega NJC và TJ Motley. 2001. Artocarpus (Moraceae) molecular phylogeny and the systematics and origins of breadfruit, Artocarpus altilis. Presented at the Botanical Society of America annual meeting, Albuquerque, NM, 12–16 tháng 8 năm 2001.

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ e ê g h Có mặt tại Việt Nam.