Christian Eriksen

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Christian Eriksen
Eriksen Euro 2012.jpg
Eriksen trong màu áo Đan Mạch tại Euro 2012
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Christian Dannemann Eriksen
Ngày sinh 14 tháng 2, 1992 (22 tuổi)
Nơi sinh Middelfart, Đan Mạch
Chiều cao 1,77 m (5 ft 9 12 in)
Vị trí Tiền vệ
Thông tin về CLB
CLB hiện nay Tottenham Hotspur
Số áo 23
CLB trẻ
1995–2005 Middelfart G&BK
2005–2008 OB
2008–2010 Ajax
CLB chuyên nghiệp*
Năm CLB ST (BT)
2010–2013 Ajax 113 (25)
2013– Tottenham Hotspur 29 (8)
Đội tuyển quốc gia
2007–2009 U-17 Đan Mạch 27 (9)
2009 U-18 Đan Mạch 5 (1)
2009–2010 U-19 Đan Mạch 3 (1)
2011– U-21 Đan Mạch 3 (1)
2010– Đan Mạch 46 (5)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng được ghi ở giải Vô địch quốc gia cập nhật lúc 13 tháng 9, 2014 (UTC).

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật lúc 7 tháng 9, 2014 (UTC)

Christian Dannemann Eriksen (sinh ngày 14 tháng 2, 1992) là cầu thủ bóng đá người Đan Mạch, đang thi đấu cho câu lạc bộ Tottenham HotspurPremier League tại vị trí tiền vệ. Trong màu áo đội tuyển quốc gia Đan Mạch, anh có trận đấu đầu tiên vào tháng 3 năm 2010 và trở thành cầu thủ trẻ nhất tham dự World Cup 2010.[1][2]

Eriksen khởi đầu sự nghiệp tại câu lạc bộ Hà Lan Ajax. Năm 2011, anh đạt danh hiệu Cầu thủ xuất sắc nhất năm của bóng đá Hà Lan và Cầu thủ Đan Mạch xuất sắc nhất năm. Trước khi đến Tottenham vào tháng 8 năm 2013, anh đã giành ba danh hiệu Giải vô địch bóng đá Hà Lan cùng với Ajax.

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Middelfart và Odense[sửa | sửa mã nguồn]

Christian Eriksen bắt đầu chơi bóng đá tại quê nhà Middelfart ngay khi chưa được ba tuổi. Năm 2005, anh chuyển đến Odense Boldklub (OB) và cùng câu lạc bộ này tham dự giải bóng đá trẻ Đan Mạch. OB thua tại bán kết trước đội trẻ Brøndby IF nhưng Eriksen vẫn được chọn là cầu thủ có kỹ thuật tốt nhất giải đấu.[3] Một năm sau đó, OB vô địch giải trẻ với Eriksen là người ghi bàn thắng duy nhất trong trận chung kết.[4] Thành tích của anh trong màu áo của U-16 OB và sau đó là đội U-17 và U-19 Đan Mạch đã giúp anh trở thành mục tiêu của các câu lạc bộ lớn như ChelseaBarcelona.[5] Eriksen sau đó đã thử việc tại Barcelona, Manchester United, Chelsea và Milan nhưng cuối cùng lại bất ngờ chọn Ajax vì anh cho rằng thi đấu cho một câu lạc bộ lớn ngay từ đầu là có thể quá sức và bong đá Hà Lan sẽ giúp cho anh phát triển tài năng.[6]

Ajax Amsterdam[sửa | sửa mã nguồn]

2008-2011[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 17 tháng 10 năm 2008, Eriksen ký hợp đồng thời hạn hai năm rưỡi với Ajax Amsterdam.[7] Phí chuyển nhượng mà OB nhận được là 1 triệu .[8] Sau hơn một năm ở đội trẻ, anh được đua lên đội một vào tháng 1 năm 2010, với số áo 51.[9] Ngày 17 tháng 1 năm 2010, anh có trận đấu chính thức đầu tiên ở đội một Ajax trong trận đấu tại Eredivisie với NAC Breda.[10] Ngày 25 tháng 3 năm 2010, anh ghi bàn thắng đầu tiên cho Ajax trong trận đại thắng 6–0 trước Go Ahead Eagles tại Cúp quốc gia Hà Lan. Ngày 10 tháng 4 năm 2010, anh gia han hợp đồng với Ajax đến mùa hè 2014.[11]

Eriksen trong trận đấu tại UEFA Champions League với Spartak Moscow.

Ngày 6 tháng 5 năm 2010, Eriksen đã vào sân ở hiệp 2 trận chung kết Cúp quốc gia Hà Lan, nơi Ajax đánh bại Feyenoord 4-1 để giành chức vô địch với tổng tỉ số 6-1 sau hai lượt trận.[12] Kết thúc mùa giải chuyên nghiệp đầu tiên cùng Ajax, Eriksen đã thi đấu 21 trận, ghi được 1 bàn.[13] Từ mùa giải sau đó, anh được trao chiếc áo số 8.[14]

Eriksen bắt đầu mùa giải 2010-11 bằng bàn thắng trong chiến thắng sân khách trước De Graafschap ngày 29 tháng 8 năm 2010.[15] Ngày 11 tháng 11 năm 2010, Eriksen có bàn thắng đầu tiên tại sân Amsterdam ArenA trong chiến thắng 3-0 tại Cúp quốc gia trước BV Veendam.[16] Trong tháng 12, anh nhận danh hiệu Cầu thủ trẻ Đan Mạch xuất sắc nhất năm.[17] Sau khi nhận danh hiệu vài ngày, anh ghi bàn thắng duy nhất trong trận đấu với Vitesse.[18] Ngày 17 tháng 2 năm 2011, Eriksen có pha lập công đầu tiên tại đấu trường Châu Âu trong chiến thắng 3-0 của Ajax trước Anderlecht tại UEFA Europa League 2010–11.[19] Ngày 13 tháng 3, anh có pha đi bóng giữa sân sau đó ghi bàn thắng ấn định tỉ số 3-1 trước Willem II.[20]

Eriksen và đồng đội tại Ajax.

2011-2013[sửa | sửa mã nguồn]

Với phong độ ấn tượng trong mùa giải 2010-11 và cùng Ajax giành danh hiệu Eredivisie lần đầu tiên sau 7 năm, Eriksen được chọn là Cầu thủ xuất sắc nhất trong năm của câu lạc bộ này.[21][22] Ngày 23 tháng 5 năm 2011, anh giành danh hiệu Cầu thủ xuất sắc nhất năm của bóng đá Hà Lan, người Đan Mạch thứ hai giành được danh hiệu này sau tiền đạo Jon Dahl Tomasson năm 1996. Đứng đầu hội đồng bầu chọn cho danh hiệu này là huyền thoại Johan Cruyff, người đã khen Eriksen:"Chúng ta có thể so sánh cậu ấy với BrianMichael Laudrup. Cậu ấy chỉ còn cần thời gian để đạt đến trình độ của những đàn anh ấy."[23]

Ngày 18 tháng 10 năm 2011, Eriksen ghi bàn thắng đầu tiên tại UEFA Champions League khi Ajax đánh bại Dinamo Zagreb 2–0 ở vòng bảng, giúp anh trở thành cầu thủ trẻ nhất thứ hai ghi bàn tại mùa giải 2011–12. Trong trận lượt về với Dinamo Zagreb ngày 2 tháng 11, anh có hai đường chuyền thành bàn cho Gregory van der WielSiem de Jong cũng như góp công vào bàn thắng thứ ba, giúp Ajax đánh bại đội bóng Croatia 4-0.[24] Sau mùa giải thứ ba liên tiếp có được danh hiệu vô địch Giải vô địch bóng đá Hà Lan, anh từ chối gia hạn hợp đồng với Ajax. Sau ba mùa giải với câu lạc bộ Hà Lan, Eriksen có tổng cộng 113 trận đấu tại Eredivisie, ghi 25 bàn và kiến tạo thành bàn 41 lần. Tại Cúp KNVB, anh có 4 bàn và 4 pha kiến tạo sau 16 trận. Tại đấu trường Châu Âu, anh có 30 trận cho Ajax và ghi được 3 bàn và có 9 đường chuyền thành bàn.[25]

Tottenham Hotspur[sửa | sửa mã nguồn]

2013-14[sửa | sửa mã nguồn]

Eriksen trong màu áo Tottenham Hotspur.

Ngày 30 tháng 8 năm 2013, Tottenham Hotspur thông báo đã hoàn tất việc chuyển nhượng Eriksen từ Ajax[26] với phí chuyển nhượng 11,5 triệu bảng.[27]

Ngày 14 tháng 9 năm 2013, anh có trận đấu đầu tiên tại Premier League với Norwich. Tottenham thắng 2-0 và anh đóng góp trong cả hai bàn thắng, trong đó có một đường chuyền thành bàn cho Gylfi Sigurðsson.[28] Huấn luyện viên André Villas-Boas đã đánh giá màn ra mắt của Eriksen là tuyệt vời và anh xứng đáng với vị trí của một số 10 bằng sự sáng tạo và kỹ thuật cá nhân.[29]

Ngày 19 tháng 9 năm 2013, Eriksen có bàn thắng đầu tiên cho Tottenham với một cú sút xa tuyệt đẹp trong chiến thắng 3–0 trước Tromsø IL tại Europa League.[30] Đến ngày 26 tháng 12 năm 2013, anh mới có bàn thắng đầu tiên tại Premier League là một pha đá phạt trực tiếp đẹp mắt mở tỉ số trận đấu với West Bromwich Albion.[31] Một tuần sau đó, trong trận đấu với đối thủ mạnh Manchester United, anh lập công lớn với một pha kiến tạo cho Emmanuel Adebayor và tự mình nâng tỉ số lên 2-0 đem về chiến thắng 2-1 cho Tottenham.[32]

Ngày 23 tháng 3 năm 2014, trong trận đấu với Southampton khi mà Tottenham đã bị dẫn trước a 2–0 ở phút 28, Eriksen đã lập một cú đúp và kiến tạo cho Gylfi Sigurðsson ghi bàn thắng ấn định cuộc lội ngược dòng 3-2.[33] Đến ngày 12 tháng 4, anh lại có pha lập công giúp Tottenham có được 1 điểm trước West Bromwich Albion sau khi đã bị đối thủ dẫn trước 3-0.[34] Kết thúc mùa giải đầu tiên với Tottenham, Eriksen có được tổng cộng 7 bàn thắng tại giải bóng đá Ngoại hạng Anh 2013-14.

2014-15[sửa | sửa mã nguồn]

Eriksen có bàn thắng đầu tiên trong mùa giải 2014-15 trong trận hòa 2-2 với Sunderland vào ngày 13 tháng 9 năm 2014.[35]

Sự nghiệp đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Eriksen trong màu áo đội tuyển Đan Mạch năm 2010.

Đội trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Eriksen được gọi vào đội tuyển U-17 Đan Mạch vào tháng 7 năm 2007, và thi đấu xuất sắc ngay từ lần ra mắt ngày 31 tháng 7.[36][37] Năm 2008, anh ghi 9 bàn trên 16 trận cho U-17 Đan Mạch và được bầu là cầu thủ xuất sắc nhất lứa tuổi U-17 Đan Mạch năm 2008 bởi Liên đoàn Bóng đá Đan Mạch.[38] Anh còn được đề cử vào danh sách rút gọn 4 ứng cử viên cho danh hiệu cầu thủ trẻ Đan Mạch xuất sắc nhất năm 2008[39] và sau cùng người giành danh hiệu này là Mathias Jørgensen.[38] Anh có 27 trận đấu cho U-17 Đan Mạch đến tháng 2 năm 2009. Trong năm 2009, anh có 8 trận đấu cho U-18 và U-19 Đan Mạch. Eriksen là thành viên U-21 Đan Mạch tham dự Giải vô địch bóng đá U-21 Châu Âu 2011 ngay tại Đan Mạch nhưng đội chủ nhà bị loại sau vòng bảng và Eriksen ghi được một bàn vào lưới U-21 Belarus.

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Anh được triệu tập vào đội tuyển Đan Mạch lần đầu tiên vào tháng 2 năm 2010[40], có trận ra mắt vào tháng 3 gặp Áo[41], và trở thành cầu thủ trẻ thứ tư khoác áo đội tuyển và là cầu thủ trẻ nhất kể từ thời Michael Laudrup.[42]

World Cup 2010[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 28 tháng 5 năm 2010, huấn luyện viên Morten Olsen đã đưa Eriksen vào danh sách 23 cầu thủ tham dự World Cup 2010 tại Nam Phi.[43] Điều này giúp anh trở thành cầu thủ trẻ nhất tại giải đấu.[1][2] Tại World Cup 2010, Eriksen thi đấu hai trận vòng bảng với Hà LanNhật Bản, chung cuộc Đan Mạch bị loại sau trận thua 1-3 trước đội tuyển Nhật.[44][45]

Ngày 9 tháng 2 năm 2011, trong trận giao hữu thua đội tuyển Anh 1-2, Eriksen được chọn là Cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu và nhận được nhiều lời khen ngợi từ Frank Lampard[46], Rio Ferdinand (on Twitter)[47], huấn luyện viên Morten Olsen và truyền thông Đan Mạch cũng như Anh.[48] Ngày 4 tháng 6 năm 2011 Eriksen ghi bàn thắng đầu tiên cho đội tuyển trong chiến thắng 2-0 trước Iceland tại vòng loại Euro 2012. Bàn thắng này giúp anh trở thành cầu thủ Đan Mạch trẻ nhất ghi bàn tại vòng loại Euro, kỷ lục trước đó thuộc về Michael Laudrup năm 1983.[49]

Ngày 7 tháng 11 năm 2011, anh được trao danh hiệu Cầu thủ Đan Mạch xuất sắc nhất năm sau khi giúp Ajax vô địch Eredivisie mùa giải 2010-11 và có một chiến dịch vòng loại Euro 2012 cực kỳ thành công với đội tuyển Đan Mạch. Eriksen nói trong lễ trao giải:"Tôi rất tự hào khi đứng ở bục trao giải tối nay. Tôi thực sự bất ngờ vì giải thưởng này và nó rất ý nghĩa với tôi. Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các đồng đội ở tuyển quốc gia và ở Ajax".[50]

Eriksen tham dự Euro 2012 với sự đánh giá cao và kỳ vọng rất lớn sẽ tỏa sáng[51] khi là cầu thủ đầu tiên trong lịch sử đội tuyển Đan Mạch đạt đến cột mốc 25 lần khoác áo đội tuyển quốc gia khi mới 20 tuổi.[52] Tuy nhiên mặc dù đã được ra sân ở cả ba trận đấu tại bảng đấu tử thần, song chỉ có vỏn vẹn 3 cú sút với không bàn thắng và không pha kiến tạo.[53][54]

Phong cách thi đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Huấn luyện viên Ajax Martin Jol đã so sánh Eriksen với các thế hệ cầu thủ đi trước cũng trưởng thành từ Ajax là Wesley SneijderRafael van der Vaart. Ông đánh giá cầu thủ người Đan Mạch đọc trận đấu rất tốt và là một số 10 cổ điển như hai tiền vệ kể trên và huyền thoại bóng đá Đan Mạch Michael Laudrup.[9][55] Khả năng kiến tạo thành bàn là điểm mạnh nhất của Eriksen.[56] Anh còn được đánh giá là thông minh và nhạy cảm vị trí, luôn biết cách đột nhập vào hàng phòng ngự đối phương và khả năng đón bóng hoàn hảo.[57]

Tuy nhiên điểm yếu của Eriksen là phong độ trong những trận đấu lớn. Khi còn chơi bóng ở giải vô địch quốc gia Hà Lan, anh thường tỏa sáng khi Ajax chạm trán những đối thủ trung bình như nhưng cần tới 3 năm mới có thể chọc thủng lưới PSV Eindhoven, một đội bóng lớn tại Hà Lan.[58] Phong độ của anh trong màu áo đội tuyển Đan Mạch tại hai giải đấu lớn World Cup 2010Euro 2012 cũng là đáng thất vọng.

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Cập nhật: 22 tháng 9, 2013

Câu lạc bộ Mùa bóng Giải ngoại hạng Cúp quốc gia League Cup Cúp Châu Âu1 Giải đấu khác2 Tổng cộng
Giải đấu Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng
Ajax 2009–10 Eredivisie 15 0 4 1 2 0 21 1
2010–11 Eredivisie 28 6 6 1 12 1 1 0 47 8
2011–12 Eredivisie 33 7 2 0 8 1 1 0 44 8
2012–13 Eredivisie 33 10 4 2 8 1 0 0 45 13
2013–14 Eredivisie 4 2 0 0 0 0 1 0 5 2
Tổng cộng 113 25 16 4 30 3 3 0 162 32
Tottenham Hotspur 2013–14 Premier League 11 2 0 0 1 0 5 1 17 3
Tổng cộng sự nghiệp 115 25 16 4 0 0 31 4 3 0 165 33

1 Bao gồm UEFA Champions LeagueUEFA Europa League.

2 Bao gồm các trận đấu tại Siêu cúp bóng đá Hà Lan.

Bàn thắng cho đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1. 4 tháng 6, 2011 Laugardalsvöllur, Reykjavík, Iceland  Iceland 2–0 2–0 Vòng loại Euro 2012
2. 10 tháng 8, 2011 Hampden Park, Glasgow, Scotland  Scotland 1–1 1–2 Giao hữu
3. 5 tháng 6, 2013 Nordjyske Arena, Aalborg, Đan Mạch  Gruzia 2–1 2–1 Giao hữu
4. 14 tháng 8, 2013 PGE Arena Gdańsk, Gdansk, Ba Lan  Ba Lan 1–1 2–3 Giao hữu

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Ajax

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “World Cup squads: The story of the stats | FIFA World Cup 2010 | STV Sport”. Sport.stv.tv. 2 tháng 6 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2010. 
  2. ^ a ă Berend Scholten (23 tháng 5 năm 2011). “Eriksen: I've got a lot to learn”. Uefa.com. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2013. 
  3. ^ “OB.dk tabte bronzekamp ved Drenge DM” (bằng Tiếng Đan Mạch). OB.dk. 7 tháng 8 năm 2005. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2010. 
  4. ^ “Dansk Mesterskab til OB's 1. drenge” (bằng Tiếng Đan Mạch). OB.dk. 13 tháng 8 năm 2006. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2010. 
  5. ^ “FC Barcelona kigger på OB-talent” (bằng Tiếng Đan Mạch). B.T. 4 tháng 4 năm 2008. 
  6. ^ “'De eerste stap moest niet te groot zijn, Ajax was fantastische optie'” (bằng Tiếng Hà Lan). Voetbalzone.nl. 28 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2011. 
  7. ^ a ă “Danish starlet Eriksen opts for Ajax”. UEFA.com. 17 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2010. 
  8. ^ “Wenger eager to sign up Ajax starlet after Bergkamp's endorsemsent”. Sport.co.uk. 23 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2010. 
  9. ^ a ă “Eriksen puts faith in Ajax way by Berend Scholten”. UEFA.com. 13 tháng 3 năm 2010. 
  10. ^ “Eriksen fik debut i Ajax” (bằng Danish). Danmarks Radio. 17 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2010. 
  11. ^ “Eriksen tot 2014 bij Ajax” (bằng Tiếng Hà Lan). Telegraaf.nl. 10 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2010. 
  12. ^ a ă “Report: Feyenoord Rotterdam vs Ajax Amsterdam – Dutch Cup”. ESPN Soccernet. 6 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2010. 
  13. ^ “Denmark – Christian Eriksen profile”. Soccerway. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2013. 
  14. ^ “Ajax maakt rugnummers bekend” (bằng Tiếng Hà Lan). Parool.nl. 19 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2010. 
  15. ^ “De Graafschap vs. Ajax”. Soccerway. 29 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2011. 
  16. ^ “Ajax vs. Veendam”. Soccerway. 11 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2011. 
  17. ^ “Christian Eriksen er Årets Talent 2010” (bằng Danish). Dr.dk. 7 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2011. 
  18. ^ “Vitesse vs. Ajax”. Soccerway. 12 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2011. 
  19. ^ “Ruthless Ajax make Anderlecht pay the penalty”. UEFA.com. 17 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2011. 
  20. ^ “Willem II vs. Ajax”. Soccerway. 13 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2011. 
  21. ^ a ă “Stekelenburg Ajacied van het Jaar, Christian Eriksen Talent van het Jaar” (bằng Tiếng Hà Lan). Ajax.nl. 15 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2011. 
  22. ^ “Euro 2012: The players to look out for - Denmark - Christian Eriksen”. Football.co.uk. 8 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2013. 
  23. ^ a ă Berend Scholten (23 tháng 5 năm 2011). “Janssen named Netherlands' finest –”. Uefa.com. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2011. 
  24. ^ “Stylish Ajax eliminate Dinamo”. UEFA. 2 tháng 11 năm 2011. 
  25. ^ “De statistieken van ruim vier jaar Eriksen”. Ajax Showtime. 30 tháng 8 năm 2013. 
  26. ^ “Eriksen Arrives”. Tottenham Hotspur. 30 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2013. 
  27. ^ “CHÍNH THỨC: Tottenham mua Eriksen với giá 11,5 triệu bảng”. Thể thao và Văn hóa. 31 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2013. 
  28. ^ “Tottenham 2 Norwich 0: Christian Eriksen shines as Spurs begin life without Bale”. Daily Star. 14 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2013. 
  29. ^ “Eriksen proves life goes on for Spurs after Bale”. Reuters. 14 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2013. 
  30. ^ “Christian Eriksen scores wonderful debut goal vs Tromsø”. Inside World Soccer. 20 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2013. 
  31. ^ “Tottenham Hotspur 1-1 West Bromwich Albion - as it happened”. Sports Mole. 26 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2013. 
  32. ^ “Tottenham: Đã đến thời của Eriksen”. Bóng Đá +. 2 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2014. 
  33. ^ “Tottenham Hotspur 3–2 Southampton”. BBC Sport. 23 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2014. 
  34. ^ “West Brom 3–3 Tottenham”. BBC Sport. 12 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2014. 
  35. ^ “Sunderland 2-2 Tottenham Hotspur”. BBC Sport. 13 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2014. 
  36. ^ “U/17-landsholdet til Internordisk Cup” (bằng Tiếng Đan Mạch). DBU.dk. 9 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2010. 
  37. ^ “Tre point mod Færøerne” (bằng Tiếng Đan Mạch). DBU.dk. 31 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2010. 
  38. ^ a ă “Lumb og Eriksen nyeste Arla Landsholdstalenter” (bằng Tiếng Đan Mạch). DBU.dk. 5 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2010. 
  39. ^ “Danmarks fire største talenter” (bằng Tiếng Đan Mạch). DBU.dk. 24 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2010. 
  40. ^ “Christian Eriksen: Det er helt vildt” (bằng Tiếng Đan Mạch). Bold.dk. 26 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2010. 
  41. ^ “Eriksen: Helt specielt med debut – TV 2 Sporten” (bằng Tiếng Đan Mạch). Sporten-dyn.tv2.dk. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2010. 
  42. ^ “A-landsholdspillere – Yngste debutant” (bằng Tiếng Đan Mạch). www.haslund.info. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2010. 
  43. ^ “Olsen names final Denmark squad”. UEFA.com. 28 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2010. 
  44. ^ “Netherlands vs. Denmark”. Soccerway. 17 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2011. 
  45. ^ “Denmark vs. Japan”. Soccerway. 24 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2011. 
  46. ^ “Stjerne: Eriksen kan blive topspiller” (bằng Tiếng Đan Mạch). spn.dk. 9 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2011. 
  47. ^ “Ferdinand skamroser Eriksen på Twitter” (bằng Tiếng Đan Mạch). Sporten.dk. 9 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2011. 
  48. ^ “Engelske medier jubler over Eriksen” (bằng Tiếng Đan Mạch). spn.dk. 9 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2011. 
  49. ^ “Ajacied Eriksen speelt Laudrup uit de boeken” (bằng Tiếng Hà Lan). Ad.nl. 16 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2011. 
  50. ^ “Eriksen and Pedersen honoured in Denmark”. UEFA. 8 tháng 11 năm 2011. 
  51. ^ “5 cầu thủ gây thất vọng nhất vòng bảng Euro 2012”. Dân trí. 21 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2013. 
  52. ^ “"Chứng nhân lịch sử" Christian Eriksen: 2 vạn người chọn ra một người”. Báo Thể thao và Văn hóa. 17 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2013. 
  53. ^ “Đội hình sao gây thất vọng nhất EURO 2012”. Báo Điện tử An Ninh Thủ Đô. 30 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2013. 
  54. ^ “Vì sao M.U không nên mua Eriksen?”. Báo Công lý. 17 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2013. 
  55. ^ “Christian Eriksen: The new Laudrup”. IMScouting. 27 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2010. 
  56. ^ “Oscar vs. Eriksen: Nhạc trưởng so đũa chỉ huy”. Thể thao và Văn hóa. 28 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2013. 
  57. ^ “Christian Eriksen: Số 10 hoàn hảo của Tottenham”. Bongda.com.vn. 16 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2013. 
  58. ^ “Eriksen và Mata – hai số phận trái ngược”. Bóng Đá +. 29 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2013. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]