Chuối rẻ quạt

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chuối rẻ quạt
Ravenala madagascariensis plantae 1.png
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
(không phân hạng) Angiospermae
(không phân hạng) Monocots
(không phân hạng) Commelinids
Bộ (ordo) Zingiberales
Họ (familia) Strelitziaceae
Chi (genus) Ravenala
Loài (species) R. madagascariensis
Danh pháp hai phần
Ravenala madagascariensis
Sonnerat

Chuối rẻ quạt còn được gọi là cây chuối quạt hay chuối cọ (danh pháp hai phần: Ravenala madagascariensis) là một loài thực vật thuộc họ Thiên điểu (Strelitziaceae), đặc hữu của Madagascar. Tuy vậy nó không phải là chuối (họ Musaceae) và cũng không phải là cọ (họ Arecaceae), Chuối rẻ quạt là loài duy nhất của chi Ravenala.

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Tên chuối rẻ quạt được gọi theo hình dạng của nó giống cái quạt (loại quạt xòe) khi lá cây chỉ phát triển ra 2 bên trong một mặt phẳng. Khi cây lớn lên, các lá cũ rụng hoặc bị cắt đi, để lại phần gốc trông giống gốc cây cọ nên cũng được gọi là chuối cọ.</ref> Trong tiếng Anh, tên của cây có nghĩa là cây cọ của du khách vì bẹ lá có thể giữ được nước mưa nên là nguồn nước quý giá cho du khách trong rừng (tránh nhầm lẫn với nước trong thân cây, dân ta hay gọi là nhựa có màu đen và không uống trực tiếp được).</ref> Tên khoa học của cây, từ Ravenala xuất phát từ một từ tiếng Madagascar, ravinala có nghĩa là "lá của rừng".

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Cây có thân hóa gỗ, cao trung bình 7 mét (có thể tới 10 m). Lá hình bầu dục có cuống dài, xếp trật tự 2 bên thân tạo thành khối dẹt trông giống như chiếc quạt giấy màu xanh xòe ra. Khi lá rụng đi để lại vết sẹo và thân cây màu xám nâu.</ref> Hoa lớn màu trắng mọc ở kẽ lá, phần trên ngọn. Hoa có hình dạng tương tự như những loài khác cùng họ (hoa nở ra trông giống hình dáng con chim thiên đường nên đặt tên là họ Thiên điểu), mặc dù vậy hoa của chuối rẻ quạt không được đánh giá cao bởi màu sắc đài hoa là màu xanh giống bẹ lá, hơn nữa dù cả chùm hoa khá to nhưng phần cánh hoa nở ra lại tương đối nhỏ, màu trắng ít nổi bật. Ngoài ra hoa có mật ngọt thu hút ong, ruồi, kiến. Thường ra hoa vào mùa thu, tuy nhiên có sự sai khác do thời tiết.

Trồng trọt[sửa | sửa mã nguồn]

Cây đòi hỏi trồng ở vị trí thoáng rộng, có nhiều nắng (lúc nhỏ thì không cần nhiều nắng).</ref> Cây hấp thụ tốt phân bón, đặc biệt là lượng phân đạm cao trong thời kì phát triển. Cây phát triển tới chiều cao trung bình 7 mét và yêu cầu lượng nước trung bình.

Công dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Nước lấy từ bẹ lá có thể uống được. Ở Việt Nam, cây được trồng làm cảnh.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

https://en.wikipedia.org/wiki/Ravenala

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]