Chu Hi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chu Hi
Zhu xi.jpg
Thời đại Nam Tống
Lĩnh vực Triết gia Trung Quốc
Trường phái Nho giáo, Lí học

Chu Hi (朱熹, bính âm: Zhū Xī; Wade-Giles: Chu Hsi), tự là Nguyên Hối, hiệu là Hối Am, sinh ngày 18 tháng 10, 1130 tại Vưu Khê, Phúc Kiến, Trung Quốc – mất ngày 23 tháng 4, 1200. Ông là người đã phát triển học thuyết lí - khí của Trình HạoTrình Di, đã đưa lí học lên thành một hệ thống duy tâm khách quan hoàn chỉnh, được gọi là Trình Chu lí học.

Cuộc đời[sửa | sửa mã nguồn]

Chu Hi là người gốc Vụ Nguyên, tỉnh Giang Tây. Ông là học trò bốn đời của Trình Di, và học trò của Chu Đôn Di. Từ thủa nhỏ, ông đã chịu nền giáo dục của nhà nho.

Năm 1151, Chu Hi được triều đình sai đến huyện Đổng An làm chức chủ bạ, thu thuế và coi cả việc giáo dục trong huyện.

Ông đậu Tiến sĩ trong niên hiệu Thiệu Hưng, làm quan tới chức Bảo Văn Các đãi chế kiêm Thị giảng cho vua Ninh Tông.

Trong suốt 15 năm làm quan, ông dành phần lớn thời gian cho việc học tập và trí thuật.

Tư tưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng Chu Hi triều Thanh

Theo Chu Hi, lí và khí không tách rời nhau: "trong thiên hạ, không hề có khí mà không có lí, cũng không hề có lí mà không có khí". Nhưng lại khẳng định "trước khi có trời đất đã có lí"[1], "lí có trước, khí có sau", "có lí này thì có khí này, nhưng lí là gốc". Ông đã kế thừa quan điểm "nhất vật lưỡng thể" của Trương Tải, cho rằng "Phàm là vật thì không đâu là không tương phản để tương thành", vật chỉ là "một chia thành hai, mỗi bước đều như thế, cho đến cùng, tất cả đều là một sinh hai"[2]. Ông cho rằng sự vật vận động qua hai hình thức: "hoá" và "biến", "hoá" là biến đổi từ từ, chậm chạp; "biến" là biến đổi đột xuất, nhanh chóng.
Về quan hệ tri hành thì cho tri trước hành sau, nhưng xét về tầm quan trọng thì cho hành quan trọng hơn tri và nhấn mạnh vai trò của hành trong nhận thức.
Về vấn đề tính người thì cho rằng thánh hiền bẩm thụ khí trong, kẻ ngu hèn bẩm thụ khí đục, cho rằng con người thì có tính thiên mệnh (đạo tâm) và tính khí chất (nhân tâm). Nhấn mạnh sự đối lập giữa "thiên lí" và "nhân dục", chủ trương vứt bỏ "tư dục" và phục tùng "thiên lí".
Về quan niệm lịch sử, Chu Hi cho rằng thời cổ đại lưu hành thiên lí, còn thời sau thì thiên lí mất đi và nhân dục xuất hiện ngày càng nhiều.

Lí luận của Chu Hi về thiên lí và nhân dục yêu cầu mọi người phải tự an với phận mình, không được mưu cầu thay đổi số phận gọi là Tồn thiên lí, khắc nhân dục.

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi từ quan, Chu Hi về dạy học ở Lô Sơn, tỉnh Giang Tây. Ông dành hết thời gian cho việc giáo dục và viết sách. Theo ông, học nên tuần tự từ từ, không nên tham lam gấp vội. Học tập tất phải kết hợp với suy nghĩ. Học tập phải bao quát hai phương diện là đọc sách và thực hành.

Các lời giảng của Chu Hi được chấp nhận là chính thống trong một thời kì dài suốt hơn 800 năm, kể cả hai triều đại MinhThanh, cho tới thế kỉ XX, khiến hình thức Tống nho này thật sự ảnh hưởng sâu sắc trong quá trình kết cấu xã hội Trung Hoa, và có lẽ chỉ bớt đi từ lúc bỏ khoa cử, năm 1905, và bị tạm gián đoạn kể từ năm 1949, khi Cộng sản nắm chính quyền.

Công trình chính[sửa | sửa mã nguồn]

Bồng hộ thủ quyển
  • Cận tư lục
  • Tứ thư chương cú tập chú
  • Thi tập chú
  • Thông giám cương mục
  • Tống danh thần ngôn hành lục
  • Sở từ tập chú
  • Dịch học khởi mông

Ảnh hưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Lí học Chu Hi có ảnh hưởng lớn về sau ở Trung Quốc và trở thành tông phái chính của Nho học thời Minh - Thanh. Học thuyết của Chu Hi cũng đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến các nước khác ở Á Đông. Ở Việt Nam, thế kỉ XVI - XVIII, các nội dung lí học của Chu Hi thường được nhắc tới. Ở Nhật Bản, vào thời Đức Xuyên (1603 - 1867) việc nghiên cứu Chu Tử (Chu Tử học) rất thịnh hành.

Tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Chu Hi bắt đầu như một người theo học Phật giáo nhưng vì không thể chấp nhận ý tưởng về vô ngã - không có bản ngã cố định - nên ông hướng tới truyền thống Nho giáo và rồi trở thành người trình giải chính của Tống Nho.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • J. Percy Bruce. Chu Hi và His Masters, Probsthain & Co., London, 1922.
  • Daniel K. Gardner. Học để trở thành một hiền nhân, Đại học Báo chí California, Berkeley, 1990.
  • Bruce E. Carpenter. 'Chu Hi và nghệ thuật của việc đọc' trong Tổng quan Trường đại học Tezukayama (Tezukayama daigaku ronshū), Nara, Japan, no. 15, 1977, pp. 13–18. ISSN 0385-7743
  • Wing-tsit Chan, Chu Hi: Cuộc sống và Tư tưởng (1987)
  • Wing-tsit Chan, Chu Hi: Nghiên cứu mới (1989)
  • Wm. Theodore de Bary, Neo-Confucian Orthodoxy and the Learning of the Mind-and-Heart (1981), on the development of Zhu Xi's thought after his death
  • Wing-tsit Chan (ed.), Chu Hi và Lí học (1986), a set of conference papers

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]


Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Chu Tử ngữ loại, quyển 1
  2. ^ Chu Tử ngữ loại, quyển 17