Cuộc thập tự chinh thứ nhất

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thập tự chinh thứ nhất
Một phần của những cuộc Thập tự chinh
A depiction of the capture of Jerusalem in 1099 from a medieval manuscript. The burning buildings of Jerusalem are centered in the image. The various crusaders are surrounding and besieging the village armed for an attack.
Cuộc đánh chiếm Jerusalem giúp cuộc Thập tự chinh đầu tiên thành công mỹ mãn
.
Thời gian 1095–1099
Địa điểm Cận Đông (Anatolia, Levant, Palestina)
Nguyên nhân bùng nổ Quân đội trợ giúp Đế quốc Byzantine chống lại người Thổ Nhĩ Kì
Theo yêu cầu của Cơ Đốc giáo để kiểm soát vùng Đất Thánh
Kết quả Thập tự quân chiến thắng
Thay đổi lãnh thổ Vương quốc Jerusalem và các quốc quốc gia Thập tự khác được thành lập
Tham chiến
Cơ đốc giáo:
Thế giới Hồi giáo:
Chỉ huy
Godfrey của Bouillon

Raymond IV của Toulouse
Étienne II của Blois
Baldwin của Boulogne
Eustace III của Boulogne
Robert II của Flander
Adhemar của Le Puy
Hugh I của Vermandois
Robert II của Normandie
Bohemond của Taranto
Tancred của Taranto
Alexios I Komnenos
Tatikios
Manuel Boutoumites
Guglielmo Embriaco
Konstantinos I

Kilij Arslan I

Yaghi-Siyan
Kerbogha
Duqaq
Fakhr al-Mulk Radwan
Ghazi ibn Danishmend
Iftikhar ad-Daula
Al-Afdal Shahanshah

Lực lượng
Thập tự quân:

~ 35,000 người

  • 30,000 quân
  • 5,000 kỵ binh

Byzantine:
~ 2,000 người[1]

Không rõ
Tổn thất
Cao Cao
.

Thập tự chinh thứ nhất là cuộc Thập tự chinh đầu tiên, được phát động vào năm 1095 bởi Giáo hoàng Urbanô II với mục đích giải phóng vùng đất thiêng liêng JerusalemĐất Thánh từ những người Hồi giáo, đem lại tự do cho người Cơ đốc giáo Đông Âu thoát khỏi sự thống trị của Hồi giáo. Khởi đầu từ một lời kêu gọi đối với tầng lớp hiệp sỹ Pháp, cuộc thập tự chinh này đã nhanh chóng trở thành một cuộc nhập cư và xâm chiếm lãnh thổ quy mô lớn ra ngoài Châu Âu. Nó trở thành một dấu mốc quan trọng trong sự bành trước của quyền lực phương Tây và cũng là cuộc thập tự chinh duy nhất chiếm Jerusalem.

Trong suốt cuộc thập tự chinh, các hiệp sĩ và những người nông dân từ nhiều quốc gia của Tây Âu hành quân trên đất liền và bằng đường biển, đầu tiên là họ đến Constantinopolis và sau đó là về hướng Jerusalem, như là các đạo quân viễn chinh, những người nông dân đông hơn rất nhiều so với các hiệp sĩ. Nông dân và các hiệp sĩ được chia thành các đội quân riêng, tuy nhiên vì người nông dân đã không được đào tạo trong chiến đấu như các hiệp sĩ, quân đội của họ đã không đạt được Jerusalem. Khi các hiệp sĩ đến được Jerusalem, họ đã phát động một cuộc tấn công vào thành phố và chiếm giữ nó trong tháng 7 năm 1099 và thành lập các thành bang thập tự quân bao gồm Vương quốc Jerusalem, Lãnh địa Bá tước Tripoli, Lãnh địa AntiochLãnh địa Bá tước Edessa.

Vì cuộc Thập tự chinh đầu tiên chủ yếu liên quan đến Jerusalem, một thành phố mà đã không nằm trong ảnh hưởng của người Thiên chúa giáo trong 461 năm và quân đội thập tự chinh đã từ chối trả lại đất cho Đế quốc Đông La Mã, bản chất của cuộc Thập tự chinh đầu tiên là phòng thủ hay tấn công vẫn còn gây tranh cãi.

Cuộc Thập tự chinh đầu tiên là một phần của phản ứng của Kitô giáo với các cuộc chinh phục của người Hồi giáo, tiếp theo cuộc Thập tự chinh thứ hai cho đến cuộc Thập tự chinh thứ chín, nhưng các cuộc Thập tự chinh khác vẫn nổ ra trong ít nhất hơn 200 năm sau. Nó cũng là bước tiến lớn đầu tiên để mở cửa trở lại thương mại quốc tế ở phương Tây kể từ sự sụp đổ của Đế quốc Tây La Mã.

Hoàn cảnh lịch sử và sự tiến hành[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo hoàng Urbanô II, nguyên là một giáo sĩ dòng Clyny, tại phiên họp tôn giáo tháng 11 năm 1095 khai diễn ở Clermont phía nam nước Pháp, đã có một bài phát biểu tác động các tầng lớp tín đồ cuồng nhiệt tại địa phương này. Ông công kích sự tàn bạo của các lãnh chúa trong nước cũng như sự bạo hành của người Hồi giáo, đồng thời ca ngợi những thành tích vinh quang của người Pháp. Không những thế, ông còn kêu gọi các lãnh chúa, kị sỹ và tất cả những người nông dân ở đây hãy cầm vũ khí lên đường giải phóng mộ Chúa để cứu lấy thánh địa Jerlusalem. Hành động này được ông mệnh danh là cuộc thánh chiến "Thập tự giá chống trăng lưỡi liềm"; những ai đáp ứng lời kêu gọi này tham gia cuộc thánh chiến sẽ được "chuộc tội" nếu chết trong chiến đấu và sẽ được lên thiên đường.

Hưởng ứng lời kêu gọi này, mùa xuân năm 1096, có hơn 6 vạn nông dân phá sản ở đông bắc Pháp và phía tây Đức tổ chức thành một đội ngũ khổng lồ men theo sông Rhinesông Donau sang phía đông. Tình cảnh của đoàn quân nông dân này rất khốn khổ, thiếu thốn lương thực, phải ăn xin dọc đường. Trong đoàn dân đói khổ này có cả những phần tử lưu manh đã thừa cơ cướp bóc những nơi họ đi qua. Tính chất ô hợp, thiếu chỉ huy, thiếu khả năng hậu cần dẫn đến việc họ thường xuyên bị các đội quân địa phương thường xuyên tập kích trên suốt chặng đường đi nên một số đông đã chết. Khi đoàn quân ô hợp này tiến đến được vùng Tiểu Á, họ đã bị người Seljuk đánh bại một cách dễ dàng, chỉ còn chừng 3.000 người chạy thoát về được đến Constantinopolis.

Đến mùa thu cùng năm, một đội kỵ sĩ chừng ba bốn vạn người của Pháp, Ý và Đức mở đầu cho cuộc Thập Tự Chinh lần thứ nhất mới xuất phát từ Lorraine, Lyon, Toulouse, chia thành bốn đường tiến quân. Khi Thập Tự quân tiến vào vùng đất của Đế quốc Đông La Mã liền ra tay cướp bóc làm cho vua nước này sợ hãi. Ông tìm cách mua chuộc hoặc trấn áp Thập Tự quân, làm cho một số chỉ huy của Thập Tự quân bằng lòng phục vụ ông với điều kiện nếu chiếm được một thành phố, một khu vực nào trước đây thuộc Đế quốc Đông La Mã thì phải trao lại cho ông ta. Chính vì vậy, Hoàng đế giúp đỡ Thập Tự quân nhiệt tình giúp họ nhanh chóng vượt qua eo biển Bosporus. Sau khi Thập Tự quân đến vùng Tiểu Á, trước tiên họ bao vây Nicaea. Do sự sắp xếp của Hoàng đế Đông La Mã, quân đồn trú tại đây nhanh chóng đầu hàng.

Trong khi Thập Tự quân tiến về xứ Syria thì Đế quốc Đông La Mã nhân cơ hội đó lấy lại vùng đất tại tây Tiểu Á của họ trước đây. Đến năm 1098, những nơi như Edessa, Antiochia lần lượt bị Thập Tự quân chiếm đóng. Đến ngày 7 tháng 6 năm 1099, với lực lượng hơn 4 vạn người, trong đó có 2 vạn quân tinh nhuệ, Thập Tự quân kéo tới chân thành Jerusalem. Với binh lực hùng mạnh và dù quân giữ thành không quá một nghìn, Thập Tự quân mãi đến tận ngày 15 tháng 7 năm ấy mới chiếm được Jerusalem, thiết lập nên Vương quốc Jerusalem và những thành bang Thập tự chinh khác. Tuy thắng lợi này chỉ tồn tại được chưa đầy 200 năm, nhưng cuộc Thập tự chinh lần thứ nhất đã là một bước quan trọng trong sự bành trước của quyền lực phương Tây, đây cũng là cuộc thập tự chinh duy nhất chiếm Jerusalem.

Tình hình ở châu Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Tại rìa phía tây của châu Âu và trong sự mở rộng của người Hồi giáo, phong trào Reconquista ở Tây Ban Nha cũng được tiến hành ở thế kỷ 11, đây được coi là cuộc chiến của ý thức hệ, bằng chứng là cuấn Epitome Ovetense của Rodrick McManigal trong năm 881, nhưng nó không phải là một dạng tiền thân của các cuộc thập tự chinh.[2][note 1] Ở thế kỷ thứ 11 ngày càng có nhiều hiệp sĩ nước ngoài, chủ yếu là đến từ Pháp, đến Tây Ban Nha để giúp các Kitô hữu trong các nỗ lực của họ để tái chinh phục.[3][note 2] Ngay trước khi các cuộc Thập tự chinh đầu tiên nổ ra, Giáo hoàng Urbanô II đã khuyến khích các Kitô hữu ở Tây Ban Nha chiếm lại lãnh địa Tarragona, Sử dụng nhiều các biểu tượng và ngôn từ tương tự như những thứ mà sau này được sử dụng để rao giảng về các cuộc thánh chiến cho người dân của châu Âu.[4]

Bản thân vùng trung tâm của Tây Âu cũng đã chở nên tương đối ổn định sau sự Kitô hóa của người Sachsen, Viking và Hungary vào cuối thế kỷ thứ 10. Tuy nhiên, sự tan rã của Đế quốc Frank đã tạo ra một tầng lớp chiến binh, những người lúc này không có nhiều việc để làm ngoài những cuộc chiến giữa bọn họ. Bạo lực xảy ra một cách ngẫu nhiên giữa các tầng lớp hiệp sĩ thường xuyên bị lên án là bởi nhà thờ đã phản ứng bằng cách thành lập Hòa bình và thỏa thuận ngừng bắn của Thiên Chúa để cấm chiến đấu vào những ngày nhất định trong năm.[5] Đồng thời, các Giáo hoàng có đầu óc cải cách bước vào các cuộc xung đột với Hoàng đế La Mã Thần thánh, kết quả là nổ ra sự Tranh cãi về sự trao quyền. Các Giáo hoàng như Đức Giáo hoàng Grêgôriô VII hợp lý hóa cuộc chiến tranh tiếp theo để chống lại các chỉ trích của Hoàng đế La Mã Thần thánh về vấn đề thần học. Người ta đã chở nên chấp nhận việc Đức Giáo hoàng lợi dụng các hiệp sĩ trong cái tên Tín đồ Cơ đốc giáo không chỉ để chống lại kẻ thù chính trị của bản thân Giáo hoàng, mà còn để chống lại người Hồi giáo Tây Ban Nha hoặc về mặt lý thuyết để chống lại Triều đình người Thổ Seljuk ở phía đông.[6]

Về phía đông của châu Âu vốn là sân nhà của đế quốc Byzantine, họ gồm các Kitô hữu đã một thời gian dài theo một nghi thức Chính thống giáo riêng biệt, Chính thống giáo phương ĐôngGiáo hội Công giáo La Mã đã ly giáo từ năm 1054. Các sử gia đã cho rằng mong muốn áp đặt quyền lực nhà thờ La Mã ở phía đông có thể là một trong những mục tiêu của chiến dịch này,[7] mặc dù Urbanô II, người đã phát động cuộc Thập tự chinh đầu tiên, không bao giờ đề cập đến mục tiêu này một cách chính thức trong những lá thư của mình cho cuộc thập tự chinh". Người Thổ Seljuk đã xâm chiếm gần như toàn bộ vùng Anatolia sau thất bại của người Byzantine tại Trận Manzikert trong năm 1071, với kết quả là vào đêm trước của Hội đồng Clermont, lãnh thổ trong tầm kiểm soát của Đế quốc Byzantine đã giảm xuống chỉ còn hơn một nửa.[8] Đến thời của Hoàng đế Alexios I Komnenos, lãnh thổ của Đế quốc Byzantine chủ yếu chỉ còn là vùng Balkan ở châu Âu và rìa Tây Bắc của vùng Anatolia và họ phải đối mặt với kẻ thù là người Norman ở phía tây cũng như người Thổ Nhĩ Kỳ ở phía đông. Để đối phó với sự thất bại ở Manzikert và sau đó thiệt hại của Byzantine ở Tiểu Á trong năm 1074, Giáo hoàng Gregory VII đã kêu gọi milites Christi ("Người lính của Chúa Kitô") để đến và viện trợ cho Byzantine-Hy Lạp. Thực chất thì phần lớn lời kêu gọi này đã bị bỏ qua và thậm chí bị phản đối, tuy nhiên nó cũng tập trung được rất nhiều sự chú ý về phía đông.[9]

Tình hình ở Trung Đông[sửa | sửa mã nguồn]

A map of the Middle East and parts of Africa, Europe, and Asia showing the expansion of the Islamic Caliphate by 750. The expansion by Muhammad from 622 to 632 is mainly confined to the Persian Gulf. The Patriarchal Caliphate, lasting from 632 to 661, expands to most of the Middle East, spreading only to northern Egypt. The Umayyad Caliphate, from 661 to 750, extends the Islamic Caliphate to most of North Africa and Iberian Peninsula and farther east from modern-day Iran.
Nhà Omeyyad vào thời điểm rộng lớn nhất

Đất Thánh là nơi cực kỳ quan trọng đối với người Kitô giáo, vì nơi đây là nơi sinh ra, giảng đạo, bị đóng đinh và phục sinh của Chúa Giêsu thành Nazareth, Người Kitô luôn coi Chúa Jesu như là Đấng Cứu thế hay Messiah. Đến cuối thế kỷ thứ 4, sau khi Hoàng đế La Mã Constantinus chuyển đổi sang Thiên chúa giáo (năm 313) và sau đó thành lập đế quốc Byzantine sau sự phân rẽ của Đế quốc La Mã, Đất Thánh đã trở thành một khu vực chủ yếu là của người Kitô giáo. Các lễ hội tôn giáo được tiến hành cho nhiều lễ kỷ niệm và cho những sự kiện trong cuộc đời của Chúa Jesu tại các địa điểm quan trọng.

Jerusalem nói riêng giữ một ý nghĩa quan trọng trong đạo Hồi vì nó là địa điểm để lên thiên đường của tiên tri Muhammad người mà người Hồi giáo tin là vị tiên tri quan trọng nhất của Allah và Jerusalem được xem là địa điểm thiêng liêng thứ ba trong số những địa điểm thiêng liêng nhất của người đạo Hồi. Sự hiện diện của người Hồi giáo tại Đất Thánh bắt đầu với việc người Hồi giáo xâm chiếm Syria trong thế kỷ thứ 7 dưới sự lãnh đạo của các Khalip nhà Rashidun. Chiến thắng của các đội quân Hồi giáo ngày càng tăng áp lực vào Đế quốc Byzantine Chính thống giáo Phương Đông, người ban đầu đã tuyên bố khu vực là lãnh thổ của họ, sự kiện này cũng bao gồm cuộc tấn công cuối cùng của người Seljuk Thổ Nhĩ Kỳ. Jerusalem cũng có tầm quan trọng lịch sử với tôn giáo của người Do Thái vì nó là địa điểm của Bức tường phía Tây-Bức tưòng phía Đông- phần cuối cùng còn lại của Đền thờ thứ hai. Người Do Thái coi Israel như là quê hương của tổ tiên của họ và đã đi thăm thành phố kể từ khi nó bị chiếm đóng bởi người La Mã và bị từ bỏ bởi người Do Thái sau cuộc nổi loạn của họ vào năm 66-73 SCN.

Cho đến khi có sự xuất hiện của quân viễn chinh, Đế quốc Byzantine vẫn phải liên tục chiến đấu với người Turk Seljuk và các triều đại Thổ Nhĩ Kỳ khác kiểm soát vùng Anatolia và Syria.[10] Người Seljuk, những người theo Hồi giáo dòng Sunni, đã cai trị Đế quốc Đại Seljuk trước đây, nhưng vào thời gian của cuộc Thập tự chinh đầu tiên nó đã bị chia thành một số tiểu quốc nhỏ hơn sau cái chết của Malik-Shah I trong năm 1092. Malik-Shah đã trao quyền thừa kế của vùng Anatolia cho Vương quốc Hồi giáo Rum của Kilij Arslan I, và Syria cho anh trai Tutush I-người đã chết trong năm 1095.[11] Fakhr al-Mulk Radwan và Duqaq-con trai của Tutush đã kế thừa vùng Aleppo và Damascus tương ứng, rồi lại tiếp tục bị phân chia giữa các tiểu vương Syria đối kháng với nhau, cũng như Kerbogha-atabeg của Mosul.[10]

Ai Cập và nhiều phần của Palestine đã bị kiểm soát bởi vương quốc Hồi giáo Fatimid Ả Rập Shia, vương quốc này chở nhỏ hơn một cách đáng kể kể từ khi có sự xuất hiện của người Seljuq. Chiến tranh giữa triều Fatimid và người Seljuq đã gây ra sự gián đoạn tuyệt đối cho các Kitô hữu địa phương và khách hành hương tây. Triều đình Fatimid, dưới sự cai trị danh nghĩa của quốc vương Hồi giáo al-Musta’li nhưng thực sự kiểm soát của tể tướng al-Afdal Shahanshah, đã bị mất Jerusalem vào tay người Seljuq trong năm 1073 (mặc dù một số tài liệu cũ nói rằng năm 1076); họ đã chiếm lại nó trong 1098 từ triều đình Artuqid, một bộ tộc Turk nhỏ hơn có liên kết với người Seljuq, ngay trước khi có sự xuất hiện của quân viễn chinh.[12]

Nghiên cứu lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bây giờ người ta không thể đánh giá chính xác tại sao cuộc Thập tự chinh đầu tiên lại xảy ra, mặc dù nguyên nhân của nó có thể đã được đề xuất bởi các sử gia. Các biên soạn lịch sử của cuộc thập tự chinh này đã phản ánh nỗ lực của các sử gia khác nhau để hiểu được nguyên nhân gây phức tạp và luận cứ của cuộc Thập tự chinh. Một lý thuyết thời đầu hiện đại, được gọi là "Luận án Erdmann", được phát triển bởi nhà sử gia Đức Carl Erdmann, nó trực tiếp liên kết các cuộc thập tự chinh với các phong trào cải cách ở thế kỷ thứ 11.[13] Lý thuyết này lần đầu tiên tuyên bố rằng "việc chuyển chiến binh đến hỗ trợ phía đông và hỗ trợ cuộc chiến của đế quốc Byzantine là mục tiêu chính của Thập tự chinh, và rằng cuộc chinh phục thành phố Jerusalem là mục tiêu thứ yếu".[14]

Nói chung, các sử gia sau này hoặc có thể tiếp tục Erdmann với mở rộng hơn nữa luận án của ông, hoặc phản đối nó. Một số sử gia, chẳng hạn như Speros Vryonis, đã nhấn mạnh ảnh hưởng của sự gia tăng của Hồi giáo nói chung và đặc biệt là nhấn mạnh về tác động của các đợt tấn công của người Seljuk gần lúc đó. Steven Runciman cho rằng cuộc thập tự chinh đã được thúc đẩy bởi một sự kết hợp của thần học biện minh cho cuộc thánh chiến và một "sự bồn chồn nói chung và mùi vị của các cuộc phiêu lưu", đặc biệt là giữa những người Norman và những "gười con trai trẻ hơn" của giới quý tộc Pháp, những người không còn có cơ hội nào khác.[15][note 3] Runciman thậm chí còn ngụ ý rằng không có mối đe dọa ngay lập tức từ thế giới Hồi giáo, ông còn cho rằng "vào giữa thế kỷ 11 rất nhiều Kitô hữu ở Palestina hiếm khi được chở nên dễ chịu như vậy".[16] Tuy nhiên, luận điểm của Runciman mình chỉ giới hạn đến vùng Palestine dưới sự cai quản của triều Fatimid 1029-1073 mà không đề cập đến thời của người Seljuk.[17] Hơn nữa, nguồn này thường được coi là tích cực đối với nhiều Kitô hữu ở Palestina trong thế kỷ thứ 11 sau này được coi là không rõ ràng, vì có rất ít nguồn tài liệu bằng văn bản trong thời kỳ này từ Palestina và hầu như không tồn tại nguồn tư liệu của Kitô giáo phát sinh trực tiếp từ Palestine dưới thời cai trị của người Seljuk. Đối lập với đối liệu của Runciman, và trên cơ sở tài liệu hiện đại của người Do Thái Cairo Geniza, cũng như tài liệu sau này của người Hồi giáo, Moshe Gil cho rằng cuộc chinh phục và chiếm đóng Palestina của người Seljuk (năm 1073-1098) là một giai đoạn "tàn sát và phá hoại, cùng với các khó khăn về kinh tế và tróc rễ dân Thiên chúa giáo".[18] Thật vậy, bản thảo của các nhà văn trước đó như Ignatius của Melitene, Michael xứ Syria đã ghi nhận rằng người Seljuk đã nhắm vào Coele-Syria và bờ biển Palestina để "phá hủy và cướp bóc".[19]

Thomas Asbridge lập luận rằng cuộc Thập tự chinh đầu tiên được Giáo hoàng Urbanô II phát động để cố gắng mở rộng quyền lực của giáo hội và để đoàn tụ giáo hội Công giáo La Mã với Constantinopolis, vốn bị chia rẽ từ sự ly khai từ năm 1054. Tuy nhiên, Asbridge lại đưa ra rất ít bằng chứng từ những bài viết của Giáo hoàng Urbanô để củng cố tuyên bố này. Theo Asbridge, sự lan truyền của Hồi giáo là không quá quan trọng bởi vì "Hồi giáo và Thiên Chúa giáo đã cùng tồn tại một cách cân bằng trong nhiều thế kỷ".[20] Nhưng Asbridge lại không chú ý đến những cuộc chinh phục của người Thổ Nhĩ Kỳ vào phía nam Anatolia và Syria trước đó và đã phá vỡ sự cân bằng về quyền lực mong manh nhưng tương đối ổn định mà đế quốc Byzantine đã phần nào phục hồi và dần dần phát triển so với sức mạnh trước đó của đạo Hồi giáo trong suốt thế kỷ 11 và đầu 10. Sau thất bại tại Manzikert trong năm 1071, người Hồi giáo đã chiếm mất một nửa lãnh thổ của đế quốc Byzantine, và các thành phố quan trọng về mặt chiến lược và tôn giáo như AntiochNicaea đã thất thủ trước người Hồi giáo chỉ trong thập niên trước khi Hội đồng Piacenza họp mặt.[8] Hơn nữa, các tài liệu về cuộc xâm lược và chinh phục Anatolia của Thổ Nhĩ Kỳ được ghi nhận bởi các sử gia Kitô giáo phương Đông như là Ioannes Scylitzes, Michael Attaleiates, Matteos xứ Edessa, Michael xứ Syria và những người khác vốn được tổng hợp bởi Vryonis, dường như mâu thuẫn với hình ảnh mà Asbridge đưa ra đó là sự "chung sống" bình thản giữa thế giới Kitô giáo và Hồi giáo trong nửa sau của thế kỷ thứ 11.[21]

Thomas Madden đại diện cho một quan điểm gần như trái ngược với quan điểm của Asbridge, cho rằng cuộc thập tự chinh chắc chắn liên quan đến cải cách giáo hội và nỗ lực để khẳng định thẩm quyền Giáo hoàng, ông cũng lập luận rằng quan trọng nhất là một cuộc đấu tranh giải phóng các Kitô hữu, những người mà Madden khẳng định, "đã bị đàn áp khốc liệt dưới bàn tay của người Thổ Nhĩ Kỳ". Lập luận này ám chỉ đến nạn bạo lực tương đối gần đó và các cuộc chiến tiếp sau những cuộc chinh phục của người Thổ Nhĩ Kỳ từ những bước tiến của người Hồi giáo.[22] Christopher Tyerman kết hợp cả hai quan điểm đối lập trong luận án của mình, cụ thể là các cuộc Thập tự chinh xuất phát từ các cải cách giáo hội và các lý thuyết của thánh chiến cũng như nó là một phản ứng trong xung đột với thế giới Hồi giáo trên khắp Châu ÂuTrung Đông.[23] Theo nghiên cứu của Jonathan Riley-Smith, nạn mất mùa và dân số quá đông đúc cùng với các phong trào thực dân trước đó đối với các khu vực biên giới của châu Âu cũng góp phần vào cuộc Thập tự chinh.[24]

Ý tưởng cho rằng những cuộc thánh chiến là một phản ứng với người Hồi giáo đã tồn tại từ thế kỷ thứ 12 khi nhà sử gia William xứ Týros, người đã bắt đầu viết cuấn biên niên sử của ông khi thành phố Jerusalem đã thất thủ trước Umar.[25] Mặc dù những cuộc chinh phục đầu tiên của người Hồi giáo đã được thực hiện nhiều thế kỷ trước khi cuộc Thập tự chinh đầu tiên được bắt đầu, các sự kiện gần đó hơn có thể vẫn còn in sâu trong tâm trí của các Kitô hữu châu Âu thời gian đó. Ví dụ, trong năm 1009 Nhà thờ Thánh Sepulchre đã bị phá hủy bởi al-Hakim bi-Amr Allah của Nhà Fatimid; Đức Giáo hoàng Sergius IV được cho là đã kêu gọi một cuộc viễn chinh quân sự để phản ứng lại hành động này, và ở Pháp nhiều cộng đồng người Do Thái thậm chí còn bị tấn công trả đũa mặc dù là bị nhầm đối tượng. Mặc dù Nhà thờ Thánh Sepulchre đã được xây dựng lại sau cái chết của al-Hakim, và các cuộc hành hương đã được nối trở lại, bao gồm cả Cuộc Đại hành hương của người Đức năm 1064-1065, người hành hương vẫn tiếp tục bị tấn công từ người Hồi giáo địa phương.[26][27] Ngoài ra, hơn nữa gần lúc này người Thổ Nhĩ Kỳ đã xâm nhập vào Tiểu Á và miền bắc Syria và theo các sử gia Kitô giáo phương Đông thì họ đã chắc chắn gieo rắc những tàn phá và người Byzantine đã trình bày lại điều này với Đức Giáo hoàng để thu hút sự trợ giúp của người Kitô hữu ở châu Âu.[21]

Hội đồng Clermont[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Hội đồng Clermont
Pope Urban II stands in the center image, far back in the church at the Council of Clermont. The church members sit around the edges of the church, looking up at Urban. Between the church members are tens of common people, sitting or kneeling, also looking up at Urban. The church is packed full with people.
Giáo hoàng Urbanô II tại Hội đồng Clermont. Mô tả từ Livre des Passages d'Outre-mer, khoảng năm 1490 (Thư viện Quốc gia Pháp)

Trong khi các cuộc thập tự chinh đã làm bắt rễ sâu trong cuộc sống chính trị và xã hội của châu Âu ở thế kỷ thứ 11, sự kiện cuối cùng thực sự gây ra cuộc Thập tự chinh đầu tiên được cho là đề nghị hỗ trợ từ hoàng đế Byzantine Alexios I Komnenos. Alexios đã lo lắng về sự tiến lên của người Seljuk, lúc này họ đã đến tận phía tây Nicaea, cách không xa Constantinopolis. Trong tháng ba năm 1095, Alexios gửi sứ thần đến Hội đồng Piacenza để yêu cầu Giáo hoàng Urbanô II gửi viện trợ để chống lại người Thổ Nhĩ Kỳ. Giáo hoàng trả lời một cách đầy triển vọng, có lẽ ông hy vọng sẽ hàn gắn sự ly khai lớn trong bốn mươi năm trước đó, và tái thống nhất Giáo Hội là ưu tiên của Đức Giáo hoàng bằng cách giúp giáo hội phương Đông vào lúc họ cần giúp đỡ.[28]

Trong tháng 7 năm 1095, Urban hướng về quê hương của ông ở nước Pháp để kêu gọi tuyển dụng người cho các cuộc viễn chinh. Ông đã đi đến đó và dự họp với Hội đồng Clermont trong tháng 11, ở đây theo một số bài phát biểu khác nhau được cho là của ông, ông đã diễn thuyết một bài giảng đầy nhiệt huyết trước đối tượng là một số lượng rất lớn giáo sĩ và các quý tộc Pháp, ông tả chi tiết về các hành động cực kỳ tàn bạo được cho là nhằm đã nhằm vào người hành hương và các Kitô hữu phương Đông. Có năm bản ghi nhớ của bài phát biểu được ghi lại bởi những người có thể đã ở tại Hội đồng hoặc những người đã tham gia vào cuộc thánh chiến, Cũng như các phiên bản khác tìm thấy bởi các sử gia sau này (chẳng hạn như William xứ Malmesbury và William xứ Týros). Tất cả các phiên bản được viết sau khi Jerusalem đã bị chiếm đóng. Vì vậy thật khó để biết những gì đã thực sự được nói và những gì là tái tạo từ kết quả của một cuộc thập tự chinh thành công. Hồ sơ hiện đại chỉ là một vài chữ cái được viết bởi Đức Giáo hoàng Urbanô trong năm 1095.[29][30]

Tất cả năm bản ghi nhớ của bài diễn văn này rất khác nhau từ chi tiết tới tổng thể. Tất cả các phiên bản, ngoại trừ trong cuấn Francorum Gesta, nói chung đồng ý rằng Urban nói chuyện về bạo lực của xã hội châu Âu và sự cần thiết phải duy trì hòa bình của Thiên Chúa; về việc giúp đỡ người Byzantine-Hy Lạp, những người đã yêu cầu để được hỗ trợ; về những người dị giáo đang tấn công các Kitô hữu ở phía Đông và về một cuộc chiến kiểu mới, như các cuộc hành hương có vũ trang và các phần thưởng từ trên trời rơi, nơi sự tha thứ được trao cho bất kỳ người nào phải chết trong các cuộc Thập tự chinh.[31] Đặc biệt là không phải tất cả các phiên bản này đều đề cập đến Jerusalem như là mục tiêu cuối cùng, tuy nhiên, người ta lại lập luận rằng thuyết giảng tiếp theo của Urbanô tiết lộ rằng ông mong đợi rằng tất cả các chuyến viễn chinh cuối cùng sẽ đến được Jerusalem.[32] Theo một phiên bản của bài diễn văn, đám đông đã nhiệt tình đáp lại bằng tiếng hô Deus vult! ("Chúa muốn vậy!"). Tuy nhiên, các phiên bản khác của bài diễn văn lại không bao gồm chi tiết này.[33]

Chiêu mộ[sửa | sửa mã nguồn]

Bài phát biểu của Urban cũng đã lên kế hoạch tuyển dụng, ông đã thảo luận về các cuộc thập tự chinh với Adhemar xứ Le PuyRaymond IV, Bá tước của Toulouse, và ngay lập tức cuộc viễn chinh đã có sự hỗ trợ của hai nhà lãnh đạo quan trọng nhất miền Nam nước Pháp. Bản thân Adhemar đã có mặt tại Hội đồng Clermont và là người đầu tiên "nhận chiếc thập tự". Trong thời gian còn lại của năm 1095 và vào năm 1096, Urban cho thông tin trên toàn nước Pháp và thúc giục các Giám mục và các đại diện của mình thuyết giảng trong giáo phận của họ ở những nơi khác tại Pháp, Đức và Italia. Tuy nhiên, rõ ràng là phản ứng với bài diễn văn là nhiều hơn với ngay cả với dự kiến Đức Giáo hoàng hay Hoàng đế Alexios. Sau ngày ông đi Pháp về, Urbanô đã cố gắng để ngăn cấm một số loại người nhất định (bao gồm cả phụ nữ, tu sĩ, và người bệnh) tham gia vào cuộc thập tự chinh, nhưng thấy rằng điều này gần như là không thể. Cuối cùng, hầu hết những người hưởng ứng lời kêu gọi lại không phải là giới hiệp sĩ, mà là những người nông dân không khá giả và có rất ít các kỹ năng chiến đấu.[34] Thông thường thì sau khi lời rao giảng kết thúc tất cả mọi người đều tình nguyện tham gia một cuộc hành hương đến Nhà thờ Thánh Sepulchre, và họ cũng may một chữ thập chéo vào quần áo của họ.[35]

Như Thomas Asbridge đã viết, "Cũng như chúng ta có thể làm gì khác hơn là ước tính số lượng hàng ngàn người phản ứng một cách nhiệt tình với lý tưởng thập tự chinh", vì vậy với những bằng chứng còn sót lại chúng ta có thể có được một cái nhìn giới hạn về động lực và ý định của họ."[36] Các học giả trước đây cho rằng quân viễn chinh được thúc đẩy bởi sự tham lam, hy vọng tìm được một cuộc sống tốt hơn, thoát ra khỏi nạn đói và chiến tranh đang xảy ra ở Pháp, nhưng ghi chú của Asbridge, "Hình ảnh này là...gây hiểu lầm sâu sắc."[37] Ông lập luận rằng lòng tham không thể là một yếu tố chính vì chi phí là rất cao để đi một chuyến xa nhà, và bởi vì hầu hết tất cả quân viễn chinh cuối cùng đã trở về nhà sau khi hoàn thành cuộc hành hương của họ thay vì cố gắng tạo ra của cải cho bản thân mình trong vùng đất Thánh.[38][39] Do đó rất khó khăn hoặc không thể đánh giá các động cơ của hàng ngàn người nghèo mà không có các hồ sơ lịch sử, hay ngay cả đối với những hiệp sĩ quan trọng, có những câu chuyện thường được kể lại bởi các thầy tu hoặc giáo sĩ. Vì thế giới thế tục thời trung cổ đã ăn rất sâu vào thế giới tâm linh của giáo hội, rất có thể đạo đức cá nhân là một trong những nhân tố chính cho nhiều Thập tự quân.[40]

Mặc dù sự nhiệt tình là rất phổ biến, tuy nhiên, Urban muốn đảm bảo rằng sẽ có một đội quân các hiệp sĩ, được rút ra từ các tầng lớp quý tộc Pháp. Ngoài Adhemar và Raymond và các nhà lãnh đạo khác, ông tuyển dụng trong năm 1096 bao gồm Bohemond I của Antiochia, một đồng minh ở miền nam Ý của các Giáo hoàng theo phe cải cách; Bohemond cháu trai của Tancred, oàng thân Galilee; Godfrey xứ Bouillon, người đã từng là một đồng minh chống lại cải cách của Hoàng đế La Mã Thần thánh; anh trai của Baldwin I xứ Jerusalem; Hugh I, Bá tước Vermandois, anh trai của Philippe I thông thái của Pháp quốc; Robert Curthose, anh trai của William II của Anh quốc; và Stephen II, Bá tước của Blois cùng với Robert II, Bá tước của Flander. Các đoàn quân viễn chinh đại diện cho miền Bắc và miền Nam nước Pháp, Đức, và miền nam Ý và do đó được chia thành bốn đội quân riêng biệt mà không phải lúc nào cũng luôn luôn hợp tác, mặc dù họ đã được tổ chức lại với nhau bởi mục tiêu cuối cùng của họ.[41]

Động cơ của giới quý tộc phần nào là rõ ràng hơn của những người nông dân, sự tham lam rõ ràng không phải là một yếu tố chính. Người ta thường giả định, ví dụ như Runciman đã nói ở trên, là chỉ các thành viên trẻ tuổi của một gia đình quý tộc tham gia vào cuộc thập tự chinh, để tìm kiếm sự giàu có và các cuộc phiêu lưu ở nơi khác, bởi vì họ không có triển vọng thăng tiến ở quê nhà. Riley-Smith lại chỉ ra rằng lý do không phải luôn luôn là như vậy. Cuộc thập tự chinh này đã được lãnh đạo bởi một số các quý tộc hùng mạnh nhất của Pháp, những người bỏ lại tất cả mọi thứ phía sau, và có cả trường hợp thường thấy là toàn bộ gia đình đã tham gia vào cuộc thập tự chinh với chi phí rất lớn của riêng họ.[42] Ví dụ, Robert của Normandy phải cho vay Lãnh đia Công tước xứ Normandy cho em trai của ông, William II của Anh và Godfrey phải bán-thế chấp tài sản của mình cho nhà thờ.[43] Theo nhà viết tiểu sử của Tancred, ông lo lắng về bản chất tội lỗi của hiệp sĩ trong chiến tranh và được kích thích để tìm một lối thoát cho bạo lực ở vùng Đất thánh.[44] Tancred và Bohemond, cũng như Godfrey, Baldwin, và anh trai của mình Eustace III, tước của Boulogne, là những ví dụ về các gia đình quyền quý đã tham gia thập tự chinh cùng với nhau. Riley-Smith lập luận rằng sự nhiệt tình của cuộc thập tự chinh có lẽ dựa trên quan hệ gia đình, vì hầu hết các quân viễn chinh Pháp đã bỏ lại người thân ở xa. Tuy nhiên, ít trong nhất một số trường hợp, động cơ cá nhân đóng vai trò động cơ của Thập tự chinh.[45] Ví dụ, Bohemond đã được thúc đẩy bởi mong muốn chiếm được cho mình một lãnh thổ ở phía đông và trước đó đã chiến đấu chống lại Byzantine để cố gắng đạt được điều này. Cuộc Thập tự chinh cho ông một cơ hội nữa, đó chính là Cuộc vây hãm Antiochia của ông, kết quả là ông ta đã sở hữu của thành phố này và thành lập Lãnh địa Antiochia.[46]

Thập tự chinh của Nhân dân[sửa | sửa mã nguồn]

A map of the Mediterranean, with the routes of Hugh I of Vermandois, Godfrey of Bouillon, Bohemond of Taranto, Raymond IV of Toulouse, Robert Curthose, and Baldwin of Boulogne highlighted. The major Christian and Muslim empires at the time of the crusade are also highlighted. Major battles in Asia Minor are marked.
Một bản đồ bằng tiếng Pháp mô tả đường hành quân của các nhà lãnh đạo quân Thập tự.
A medieval transcript that depicts the People's Crusade. Lines of peasants and armies are shown in battle against the Seljuq Turks.
An illustration showing the defeat of the People's Crusade

Tuy nhiên đây không phải là lần đầu tiên các nhà Đại quý tộc Pháp và các đội quân hiệp sĩ được đào tạo rất tốt của họ tiến hành các cuộc hành trình hướng về Jerusalem. Giáo hoàng Urban đã lên kế hoạch xuất phát cho cuộc thập tự chinh đầu tiên vào ngày 15 tháng 8 năm 1096, đây là ngày Lễ Đức Mẹ Lên Trời, nhưng nhiều tháng trước sự kiện này, một số đội quân không được tính tới của nông dân và các quý tộc nhỏ đã khởi hành đi Jerusalem vào các ngày của riêng họ, do một linh mục có sức lôi cuốn được gọi là Peter Hermit dẫn đầu. Peter là người thành công nhất trong các nhà truyền giáo khi truyền đạt thông điệp của Giáo Hoàng Urbanô và phát triển thành một sự nhiệt tình gần như cuồng loạn giữa các con chiên của ông, mặc dù có lẽ ông này không phải là một truyền giáo "chính thức" được cho phép bởi Giáo hoàng Urbanô tại Clermont.[47] Một thế kỷ sau ông này đã trở thành một nhân vật huyền thoại; William xứ Tyre tin rằng Peter chính là người đã khuấy lên ý tưởng về các cuộc thập tự chinh trong tâm trí của Urbanô.[48][49] Người ta cho rằng Peter đã dẫn đầu một nhóm lớn gồm các nông dân chưa qua đào tạo quân sự và mù chữ, nhiều người thậm chí không có bất kỳ ý tưởng gì về Jerusalem, nhưng thực sự cũng có nhiều hiệp sĩ trong số các nông dân, bao gồm cả Walter Sans Avoir, người là Trung úy của Peter và dẫn đầu một đội quân riêng.[50][51]

Lacking military discipline, in what likely seemed to the participants a strange land (Eastern Europe), Peter's fledgling army quickly found itself in trouble despite the fact they were still in Christian territory. The army led by Walter fought with the Hungarians over food at Belgrade, but otherwise arrived in Constantinople unharmed. Meanwhile, the army led by Peter, which marched separately from Walter's army, also fought with the Hungarians, and may have captured Belgrade. At Nish the Byzantine governor tried to supply them, but Peter had little control over his followers and Byzantine troops were needed to quell their attacks. Peter arrived at Constantinople in August, where his army joined with the one led by Walter, which had already arrived, as well as separate bands of crusaders from France, Germany, and Italy. Another army of Bohemians and Saxons did not make it past Hungary before splitting up.[50]

This unruly mob began to attack and pillage outside the city in search of supplies and food, prompting Alexios to hurriedly ferry the gathering across the Bosporus one week later.[52] After crossing into Asia Minor, the crusaders split up and began to pillage the countryside, wandering into Seljuq territory around Nicaea. The greater experience of the Turks was overwhelming; most of the crusaders were massacred. Some Italian and German crusaders were defeated and killed at Xerigordon at the end of August. Meanwhile, Walter and Peter's followers, who, although for the most part untrained in battle but led by about 50 knights, fought a battle against the Turks at Civitote in October. The Turkish archers destroyed the crusader army, and Walter was among the dead. Peter, who was absent in Constantinople at the time, later joined the main crusader army, along with the few survivors of Civetot.[53]

Cuộc tấn công vào người Do Thái trong vùng Rheinland[sửa | sửa mã nguồn]

Ở cấp địa phương, các rao giảng về cuộc Thập tự chinh đầu tiên đã châm ngòi cho các bạo lực nhằm vào những Người Do Thái, mà một số sử gia đã coi là "Holocaust đầu tiên".[54] Vào cuối năm 1095 và đầu 1096, vài tháng trước khi cuộc thập tự chinh chính thức xuất phát vào tháng 8, đã có các cuộc tấn công vào các cộng đồng người Do Thái ở Pháp và Đức. Trong tháng 5 năm 1096, Emicho xứ Flonheim (Đôi khi được gọi không chính xác là Emicho xứ Leiningen) đã tấn công người Do Thái tại Speyer và Worms. Các Thập tự quân không chính thức khác từ Schwaben, do Hartmann xứ Dillingen chỉ huy cùng với người Pháp, người Anh, người Lotharingian và tình nguyện viên người Flemish, do Drogo xứ NesleWilliam Carpenter chỉ huy, cũng với nhiều người dân địa phương, tham gia cùng với Emicho trong việc tiêu diệt cộng đồng Do Thái xứ Mainz vào cuối tháng.[55] Tại Mainz, một người phụ nữ Do Thái thà tự tay giết chết các con của mình còn hơn là nhìn thấy chúng bị giết chết; vị thủ lĩnh tôn giáo Do Thái, Kalonymus Ben Meshullam, đã tự sát để khỏi bị giết chết.[56]

Sau đó đội quân của Emicho đã tiến vào Cologne và những người khác tiếp tục đi tới Trier, Metz, và các thành phố khác.[57] Ẩn sĩ Peter có thể đã tham gia vào những vụ bạo lực nhằm vào những người Do Thái và một đội quân được dẫn đầu bởi một linh mục tên là Folkmar cũng tiếp tục tấn công vào người Do Thái ở phía đông Bohemia.[58] Cuối cùng đội quân của Emicho tiếp tục tiến vào Hungary nhưng đã bị đánh bại bởi quân đội của Coloman xứ Hungary. Những người đi theo ông ta bị phân tán, một số cuối cùng đã gia nhập đội quân Thập tự chinh chính, mặc dù bản thân Emicho lại đi về nhà.[57]

Nhiều người trong số những kẻ tấn công có vẻ như đã muốn ép buộc người Do Thái phải chuyển đổi đức tin, mặc dù họ cũng thích lấy được tiền từ người Do Thái. Bạo lực đối với người Do Thái chưa bao giờ là một phần của chính sách thập tự chinh chính thức của nhà thờ và các Giám mục Thiên chúa giáo, đặc biệt là Đức Tổng Giám mục Köln, đã làm hết sức mình để bảo vệ người Do Thái. Tuy nhiên, một số người trong số họ cũng nhận tiền để đổi lấy sự bảo vệ của họ. Các cuộc tấn công có thể đã bắt nguồn từ niềm tin rằng người Do Thái và người Hồi giáo đều là kẻ thù của Chúa Kitô và kẻ thù phải bị đánh đuổi hoặc phải chuyển đổi sang Kitô giáo. Godfrey xứ Bouillon đã tống tiền của người Do Thái ở các xứ Köln và Mainz và có rất nhiều các Thập tự quân đã tự hỏi tại sao họ phải đi hàng ngàn dặm để chiến đấu với bọn dị giáo trong khi chúng lại ở ngay gần nhà của họ.[59] Các cuộc tấn công vào người Do Thái đã được chứng kiến Ekkehard xứ Aura và sử gia đương thời là Albert xứ Aix; Giữa các cộng đồng người Do Thái, các nhân chứng đương thời là Người vô danh xứ Mainz, Eliezer ben NathanSolomon bar Simson.

Thập tự chinh của các ông Hoàng[sửa | sửa mã nguồn]

Hướng hành quân của các nhà lãnh đạo Cuộc thập tự chinh thứ nhất

Bốn đội quân thập tự chinh chính rời châu Âu vào thời gian khoảng tháng 8 năm 1096. Họ chọn những con đường khác nhau để đến Constantinopolis và tập hợp bên ngoài bức tường của thành phố vào giữa tháng 11 năm 1096 và tháng 4 năm 1097, Hugh của xứ Vermandois đến đầu tiên, tiếp theo Godfrey, Raymond, và Bohemond. Thời gian này, Hoàng đế Alexios đã chuẩn bị tốt hơn cho quân viễn chinh nên có ít sự cố bạo lực trên đường đi.[60]

Rất khó khăn để ước tính số lượng của toàn bộ các đội quân thập tự chinh, các nhân chứng đã đưa ra các con số rất khác nhau, ngay cả các sử gia hiện đại cũng có các ước tính khác nhau. David Nicolle, nhà sử gia quân sự chuyên nghiên cứu về Thập tự chinh cho rằng các đội quân bao gồm khoảng 30,000-35,000 quân viễn chinh, trong đó có 5.000 kỵ binh. Raymond có một đội quân lớn nhất khoảng 8.500 lính bộ binh và 1.200 kỵ binh.[61]

Crusaders riding horses prepare to enter Constantinople, nearby, while another crusader army in the distance also approaches Constantinople.
"Thập tự quân đến Constantinopolis", của Jean Fouquet

Các hoàng tử đến được Constantinopolis và chỉ còn lại rất ít đồ quân nhu cũng như thực phẩm và họ cần sự giúp đỡ từ Alexios. Hoàng Đế Alexios được cho là có chút nghi ngờ về sức mạnh của Thập tự quân sau kinh nghiệm của ông với cuộc Thập tự chinh của nhân dân, và cũng bởi vì trong số các hiệp sĩ có kẻ thù cũ người Norman của ông, Bohemond, người đã từng xâm chiếm lãnh thổ Byzantine nhiều lần với cha của ông ta là Robert Guiscard, và có thể thậm chí ông này đã cố gắng để tổ chức tấn công Constantinopolis trong khi đóng trại bên ngoài thành phố.[62]

Các đạo quân viễn chinh có thể đã dự kiến rằng Hoàng đế Alexios sẽ trở thành lãnh đạo của họ, nhưng ông này đã không quan tâm đến việc tham gia cùng với họ và chủ yếu là chỉ quan tâm đến việc vận chuyển họ sang đất Tiểu Á càng nhanh càng tốt.[63] Để đổi lấy thực phẩm và đồ quân nhu, Alexios yêu cầu các chỉ huy Thập tự quân thề lờ̀i thề̀ trung thành với ông và hứa sẽ trả lại cho đế quốc Byzantine bất kỳ vùng đất nào mà họ thu hồi được từ tay người Thổ Nhĩ Kỳ. Godfrey là người đầu tiên chấp nhận những lời tuyên thệ, và gần như tất cả các chỉ huy khác cũng làm theo ông ta, mặc dù họ chỉ làm như vậy sau khi chiến tranh đã gần như bùng nổ ở gần thành phố giữa các công dân và quân viễn chinh, những người chỉ muốn cướp bóc. Chỉ một mình Raymond là tránh lời thề, thay vào đó ông chỉ đơn giản là cam kết rằng sẽ không gây hại cho đế quốc. Trước khi đảm bảo rằng các quân đội khác nhau được chuyển bằng phà qua eo biển Bosporus, Hoàng đế Alexios đưa ra lời khuyên cho các chỉ huy về cách tốt nhất để đối phó với quân Seljuk mà họ sẽ sớm gặp phải.[64]

Cuộc vây hãm Nicaea[sửa | sửa mã nguồn]

Các đội quân thập tự chinh vượt qua eo biển Bosporus và tiến vào Tiểu Á trong nửa đầu năm 1097, nơi họ được gia nhập bởi Peter, một nhà ẩn sĩ và phần còn lại của đội quân nhỏ bé của ông. Ngoài ra, hoàng đế Alexios cũng đã gửi hai trong số các tướng của mình, Manuel BoutoumitesTatikios, để hỗ trợ các đạo quân viễn chinh. Mục tiêu đầu tiên của chiến dịch là phải chiếm được Nicaea, thành phố vốn nằm trên bờ biển phía đông hồ İznik, thành phố này bị người Thổ Seljuq chiếm từ tay Đế quốc Đông La Mã năm 1081 và trở thành kinh đô của Vương quốc Hồi giáo Rum dưới thời Sultan Kilij Arslan I. Năm 1096 cuộc Thập tự chinh của Nhân dân - giai đoạn đầu tiên của cuộc Thập tự chinh đầu tiên, đã cướp bóc các vùng đất xung quanh thành phố trước khi bị bị tiêu diệt bởi người Thổ Nhĩ Kỳ. Kết quả là, Sultan Kilij Arslan I lúc đầu cảm thấy rằng làn sóng thứ hai của quân viễn chinh không phải là một mối đe dọa lớn.[65] Do đó ông đã để lại gia đình và ngân khố của mình phía sau, ở tại Nicaea và đi về phía đông để chống lại triều đình Danishmend lúc này đang kiểm soát vùng Melitene. Sau đó, khi quân Thập tự chinh đến nơi, thành phố đã phải trải qua một cuộc bao vây kéo dài, và khi Arslan nhận được tin cấp báo phải gấp rút quay trở về Nicaea và tấn công vào quân thập tự chinh vào ngày 16 tháng 5. Ông đã bị đẩy lùi bởi một lực lượng thập tự chinh hùng mạnh mà ông không ngờ tới, và hai bên đều phải chịu những tổn thất nặng nề trong những trận chiến tiếp theo.[66]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ "They [the Saracens] take the kingdom of the Goths, which until today they stubbornly possess in part; and against them the Christians do battle day and night, and constantly strive; until the divine fore-shadowing orders them to be cruelly expelled from here. Amen."[2]
  2. ^ The Norman Roger I of Tosny went in 1018. Other foreign ventures into Aragon: the War of Barbastro in 1063; Moctadir of Zaragoza feared an expedition with foreign assistance in 1067; Ebles II of Roucy planned one in 1073; William VIII of Aquitaine was sent back from Aragon in 1090; a French army came to the assistance of Sancho Ramírez in 1087 after Castile was defeated at the Battle of Sagrajas; Centule I of Bigorre was in the valley of Tena in 1088; and there was a major French component to the "crusade" launched against Zaragoza by Peter I of Aragon and Navarre in 1101.[3]
  3. ^ Runciman is widely read; it is safe to say that most popular conceptions of the Crusades are based on his account, though the academic world has long moved past him.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nicolle 2003, tr. 21 and 32.
  2. ^ a ă R. A. Fletcher (1987), "Reconquest and Crusade in Spain c. 1050–1150," Transactions of the Royal Historical Society, Fifth Series, 37, p. 34.
  3. ^ a ă Lynn H. Nelson (1979), "The Foundation of Jaca (1077): Urban Growth in Early Aragon," Speculum, 53 p. 697 note 27.
  4. ^ Riley-Smith 2005, tr. 7.
  5. ^ Asbridge 2004, tr. 3–4.
  6. ^ Riley-Smith 1991, tr. 5–8.
  7. ^ Asbridge 2004, tr. 17.
  8. ^ a ă Treadgold 1997, tr. 8 Graph 1.
  9. ^ Asbridge 2004, tr. 15–20.
  10. ^ a ă Holt 1989, tr. 11, 14–15.
  11. ^ Gil 1997, tr. 410, 411 note 61.
  12. ^ Holt 1989, tr. 11–14.
  13. ^ Erdmann (1935), Die Entstehung des Kreuzzugsgedankens. Translated into English as The Origin of the Idea of Crusade by Marshall W. Baldwin and Walter Goffart in 1977.
  14. ^ Riley-Smith 1991, tr. 1.
  15. ^ Runciman 1980, tr. 76.
  16. ^ Runciman 1980, tr. 31.
  17. ^ Runciman 1980, tr. 30–31.
  18. ^ Gil 1997, tr. 420; để biết thêm về việc Seljuk xâm chiếm Palestina, hãy xem các trang 410–420.
  19. ^ Chronique de Michel le Syrien, các trang. 170–171.
  20. ^ Asbridge 2004, tr. 17; for Urban's personal motives, see pp. 19–21.
  21. ^ a ă Vryonis 1971, tr. 85–117.
  22. ^ Madden 2005, tr. 7.
  23. ^ Tyerman 2006, tr. 56–57.
  24. ^ Riley-Smith 2005, tr. 17.
  25. ^ William of Tyre, tr. 60.
  26. ^ Riley-Smith 2005, tr. 10–12.
  27. ^ William of Tyre, tr. 65–66, where he mentions the destruction of the Holy Sepulchre as a cause of the First Crusade.
  28. ^ Asbridge 2004, tr. 15.
  29. ^ Asbridge 2004, tr. 32.
  30. ^ The first attempt to reconcile the different speeches was made by Dana Munro, "The Speech of Urban II at Clermont, 1095", American Historical Review 11 (1906), pp. 231–242. The different versions of the speech are collected in The First Crusade: The Chronicle of Fulcher of Chartres and Other Source Materials, ed. Edward Peters (University of Pennsylvania Press, 2nd ed., 1998). The accounts can also be read online at The Internet Medieval Sourcebook.
  31. ^ Asbridge 2004, tr. 31–39
  32. ^ Riley-Smith 2005, tr. 8.
  33. ^ Tyerman 2006, tr. 65.
  34. ^ Asbridge 2004, tr. 46–49.
  35. ^ Asbridge 2004, tr. 65–66.
  36. ^ Asbridge 2004, tr. 41.
  37. ^ Asbridge 2004, tr. 68.
  38. ^ Asbridge 2004, tr. 69.
  39. ^ Riley-Smith 1998, tr. 15.
  40. ^ Asbridge 2004, tr. 69–71.
  41. ^ Asbridge 2004, tr. 55–65.
  42. ^ Riley-Smith 1998, tr. 21.
  43. ^ Asbridge 2004, tr. 77.
  44. ^ Asbridge 2004, tr. 71.
  45. ^ Riley-Smith 1998, tr. 93–97.
  46. ^ Neveux 2008, tr. 186–188.
  47. ^ Asbridge 2004, tr. 78–82.
  48. ^ William of Tyre, tr. 82–85.
  49. ^ Asbridge 2004, tr. 80–81.
  50. ^ a ă Riley-Smith 2005, tr. 28.
  51. ^ Asbridge 2004, tr. 82.
  52. ^ Riley-Smith 2005, tr. 26–27.
  53. ^ Asbridge 2004, tr. 101–103.
  54. ^ Riley-Smith 1991, tr. 50.
  55. ^ Asbridge 2004, tr. 84–85.
  56. ^ Tyerman 2006, tr. 102.
  57. ^ a ă Tyerman 2006, tr. 103.
  58. ^ Riley-Smith 2005, tr. 24.
  59. ^ Tyerman 2006, tr. 103–106.
  60. ^ Asbridge 2004, tr. 103–105.
  61. ^ Nicolle 2003, tr. 21, 32.
  62. ^ Asbridge 2004, tr. 106.
  63. ^ Asbridge 2004, tr. 110.
  64. ^ Asbridge 2004, tr. 110–113.
  65. ^ Asbridge 2004, tr. 117–120.
  66. ^ Asbridge 2004, tr. 124–126.

Sources[sửa | sửa mã nguồn]


Primary sources[sửa | sửa mã nguồn]

Primary sources online[sửa | sửa mã nguồn]

Secondary sources[sửa | sửa mã nguồn]

Bibliographies[sửa | sửa mã nguồn]