Cuộc vây hãm Yorktown

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cuộc vây hãm Yorktown
Một phần của Chiến tranh Cách mạng Hoa Kỳ
Surrender of Lord Cornwallis.jpg
Hầu tước Cornwallis đầu hàng
thực hiện John Trumbull, mô tả quân đội Anh (bên trái) phất cờ trắng đầu hàng Pháp và Mỹ (phía bên phải). Tranh sơn dầu trên vải, 1820.
.
Thời gian 28 tháng 9 – 19 tháng 10, 1781
Địa điểm Yorktown, Virginia
Kết quả Chiến thắng quyết định của Pháp và Hoa Kỳ
Tham chiến
 Hoa Kỳ
 Pháp
 Vương quốc Anh
 Ansbach-Bayreuth
Cờ của Hesse Hesse-Kassel
Chỉ huy
Flag of the United States George Washington
Flag of Russia Comte de Rochambeau
Flag of Russia Comte de Grasse
Cờ của Vương quốc Anh (1707-1801) Charles Cornwallis Đầu hàng
Cờ của Vương quốc Anh (1707-1801) Charles O'Hara Đầu hàng
Lực lượng
Mỹ: 8,000 quân chính quy
3,100 dân quân[1]

Pháp: 7,800–8,800 quân chính quy
29 tàu chiến[1]

Tổng cộng: 18,900–19,900

Anh: 9,000 (bao gồm cả quân đội Đức)[2]

Tổng cổng: 9,000

Tổn thất
88 bị chết
301 thương vong[3]
142–309 bị chết;
326–595 tù nhân bị thương;
7,416–7,685 bị bắt[4]
.

Cuộc bao vây Yorktown, trận Yorktown, hay Yorktown đầu hàng vào năm 1781 là một chiến thắng quyết định bởi một cuộc tấn công kết hợp của quân Cách mạng Hoa Kỳ dưới sự chỉ đạo của vị tướng tài ba George Washington và đội quân Pháp được dẫn dắt bởi Comte de Rochambeau trong khi phe bên kia, Anh được Hầu tước Cornwallis chỉ huy. Nó là đỉnh điểm của chiến dịch Yorktown, nó đã được chứng minh là đất trận chiến lớn cuối cùng của Chiến tranh Cách mạng Mỹ ở Bắc Mỹ, với sự đầu hàng của quân đội Cornwallis và đã thúc đẩy chính phủ Anh đi tới đàm phán cuối cùng để chấm dứt những cuộc xung đột bấy lâu nay.

Năm 1780, 5.000 lính Pháp đã cập bến tại đảo Rhode để hỗ trợ đồng minh Hoa Kỳ trong các hoạt động chống lại người Anh kiểm soát thành phố New York. Sau khi công văn từ Pháp được phê duyệt, bao gồm khả năng hỗ trợ từ những hạm đội tàu Tây Ấn của Pháp do Comte de Grasse làm thống soái, Washington và Rochambeau đã yêu cầu thêm de Grasse hỗ trợ thêm để bao vây New York, hoặc trong các hoạt động quân sự nhằm mục đích chống lại quân Anh đang tung hoành ở Virginia. Theo lời khuyên của Rochambeau, de Grasse thông báo cho họ về ý tiến đội thuyền của mình tới vịnh Chesapeake, nơi Cornwallis đang chỉ huy của quân đội. Cornwallis lần đầu tiên đã khiến sĩ quan cấp cao hơn, Henry Clinton, hơi khó hiểu và cuối cùng đã được lệnh phải làm cho một cảng nước sâu để phòng thủ, ông bắt đầu thực hiện tại Yorktown, Virginia. Mọi hành động của Cornwallis ở Virginia đều bị lực lượng Lục quân Lục địa được dẫn đầu bởi Marquis de Lafayette theo dõi.

Quân đội Pháp và Mỹ đã hợp nhất ở phía bắc của thành phố New York trong mùa hè năm 1781. Khi công văn của de Grasse đến nơi, quân đội hai bên bắt đầu di chuyển về phía Virginia, phao tin là đang lên kế hoạch bao vây New York để lừa người Anh và tất nhiên người Anh tin rằng sẽ có một cuộc bao vây New York xảy ra như đã lên kế hoạch. De Grasse đi thuyền từ Tây Ấn và đến vịnh Chesapeake vào cuối tháng 8, đưa quân bổ sung và phong tỏa hải quân Yorktown. Ông đã vận chuyển 500.000 peso bạc thu thập từ các công dân của La Habana, Cuba để tài trợ các nguồn cung cấp dành cho chiến tranh và để tính lương cho quân đội Lục địa.[5] Trong khi ở Santo Domingo, de Grasse đã gặp Francisco Saavedra de Sangronis, một đại diện của vua Carlos III của Tây Ban Nha. De Grasse đã lên kế hoạch để lại một số tàu chiến của mình tại Santo Domingo.[6] Saavedra hứa hẹn hải quân Tây Ban Nha sẽ hỗ trợ trong việc bảo vệ đội thương thuyền của Pháp, và de Grasse có thể đưa hạm đội về phía bắc với tất cả các tàu chiến của mình. Trong những ngày đầu tháng Chín, ông đã đánh bại hạm đội Anh dẫn đầu bởi Sir Thomas Graves, và người đang chuẩn bị đi cứu Cornwallis tại trận Chesapeake. Với kết này, de Grasse đã chặn toàn bộ đường thoát bằng đường biển của Cornwallis. Tại thời điểm Washington và Rochambeau đưa quân đến, và lực lượng lục quân và hải quân đã hoàn toàn bao quanh Cornwallis.

Sau những chuẩn bị ban đầu, người Mỹ và người Pháp đã xây dựng những đường hào ngang đầu tiên và bắt đầu bắn phá. Với sự chống cự yếu đuối của Anh, Washington vào ngày 14, năm 1781 gửi hai đội hình dọc để thực hiện cuộc tấn công lớn cuối cùng vào bên ngoài hàng phòng thủ còn lại. Đội quân Pháp chiếm lấy đồn #9 và Mỹ chiếm đồn #10. Với những hệ thống phòng thủ đã thực hiện, các đồng minh đã có thể kết thúc tuyến hào thứ hai của họ. Với những pháo binh Mỹ gần hơn và mãnh liệt hơn bao giờ hết, tình hình của Anh bắt đầu xấu đi nhanh chóng và Cornwallis đã chấp nhận các điều kiện đầu hàng vào ngày 17. Sau hai ngày đàm phán, lễ đầu hàng đã diễn ra vào ngày 19, nhưng Cornwallis đã tránh mặt bằng cách tuyên bố bị ốm. Với việc bắt giữ hơn 7.000 binh sĩ Anh, cuộc đàm phán giữa Hoa KỳAnh bắt đầu, kết quả là Hiệp ước Paris năm 1783.

Dạo đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Chiến dịch Yorktown

Hợp tác Pháp-Mỹ[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 20 tháng 12 năm 1780, Benedict Arnold khởi hành từ New York với 1.500 lính tới Portsmouth, Virginia. Trên đường đi ngang qua Richmond, Arnold đã cho quân đột kích, và đánh bại một đội dân quân vào ngày 5-7 tháng 1 năm 1781 trước khi tiếp tục đi tới Portsmouth.[7] Đô đốc Destouches, người đã đến Newport, Rhode Island vào tháng Bảy năm 1780 với một hạm đội gồm 5.500 binh sĩ, đã được Washington và tướng Pháp Rochambeau khích lệ. Sau đó Destouches đã mang hạm đội của mình về phía nam, và bắt đầu cuộc tấn công vào đội quân của Arnold.[7] Marquis de Lafayette đã gửi 1.200 lính để cùng triển khai tấn công.[8] Nhưng thực ra, Destouches không hề muốn gửi bất cứ một tàu nào và chỉ duy nhất một lần với ba tàu chiến vào tháng hai. Sau khi được chứng minh là không mang lại hiểu quả nào, ông mới tung ra một lực lượng lớn hơn với đội tàu gồm 11 chiếc vào tháng 3 năm 1781, và đã có một trận đánh bế tắc khi chiến thuật rối tung với hạm đội Anh do Benedict Arnold chỉ huy trước cửa vịnh Chesapeake. Destouches bắt buộc phải rút lui do nhưng hư hại nặng nề với đội tàu chiến và để Arbuthnot cùng với hạm đội Anh chấn giữ cửa vịnh.[8]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích
  1. ^ a ă Lengel p.337
  2. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Lengel330
  3. ^ Greene, p. 307
  4. ^ Greene, pp. 307–308
  5. ^ Chávez p.225
  6. ^ Mitchell p.23
  7. ^ a ă Lengel, trang 328
  8. ^ a ă Lengel, trang 329
Thư mục

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]


Tọa độ: 37°14′21″B 76°30′38″T / 37,239301°B 76,510692°T / 37.239301; -76.510692