Cua Trung Quốc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cua đồng Trung Quốc
EriocheirSinensis1.jpg
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Arthropoda
Phân ngành (subphylum) Crustacea
Lớp (class) Malacostraca
Bộ (ordo) Decapoda
Phân thứ bộ (infraordo) Brachyura
Họ (familia) Varunidae
Chi (genus) Eriocheir
Loài (species) E. sinensis
Danh pháp hai phần
Eriocheir sinensis
H. Milne-Edwards, 1853
"Chinese mitten crab"
Phồn thể: 大閘蟹
Giản thể: 大闸蟹
Alternative Chinese name
Tiếng Trung: 上海毛蟹

Cua Trung Quốc [1][2] hay còn gọi là Cà ra [3], cua đồng Trung Quốc [4] (chữ Hán: 大閘蟹; bính âm: dà zhá xiè, danh pháp khoa học: Eriocheir sinensis) là một loài cua nước ngọt thuộc hệ cua đồng có nguồn gốc từ Trung Quốc từ tỉnh Phúc Kiến và được du nhập vào Châu Âu, Bắc Mỹ nơi được xem là một loài xâm lấn. Cua này cũng du nhập vào Viêt Nam do con người, nước này xem loài này là loài có nguy cơ xâm hại.[1][5][6]

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Cua đồng Trung Quốc được mô tả có hình dáng kỳ lạ, chúng có càng màu xanh, đỏ, mai có màu xanh nhạt, hoặc xám xanh, hai càng bằng nhau rất đều và chạy rất nhanh, đặc biệt chúng rất to và phần bụng cua có màu vàng cáu, hai gọng màu xanh, mai cua có màu xám[7]. Về ngoại hình, cua đồng Trung Quốc không khác nhiều so với cua đồng nhưng đặc điểm sinh học của chúng khác hoàn toàn với cua đồng. Cua đồng sống trong các hang, lỗ tại các bờ ruộng, bờ kênh, rạch, thường bò ra khỏi hang kiếm ăn, xong lại trốn vào hang, trong khi đó cua Trung Quốc không có thói quen trốn trong hang mà chúng bò đầy khu vực sinh sống[8][9].

Trên thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Cua Trung Quốc được du nhập vào châu Âu, ở Anh, chúng có mặt tại sông Thame, ở Mỹ chúng có mặt tại nhiều vùng trong đó có Ngũ Hồ.

Ở Việt Nam, giống cua này tiềm ẩn những hiểm họa các mầm bệnh nguy hiểm cho người ăn vì giống cua này trước khi được thả ra ngoài tự nhiên được tiêm thuốc. Nên người ăn nếu là thiếu nữ thì sẽ bị vô sinh, người già thì bị ung thư[10] hay các căn bệnh hiểm nghèo. Những con cua có mai màu xanh đen và 2 càng bằng nhau khiến người dân nghi ngại. Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng giống cua mai to, yếm to thực chất là cua đồng nuôi theo mô hình trang trại từ miền Nam chuyển ra[11].

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Công văn số 961 /BKHCN-XHTN (05 tháng 5 năm 2011). Bộ KHCN gửi bộ Tài nguyên-Môi trường.
  2. ^ Vũ Dũng & Trần Thế Trung. Cơ sở khoa học quy trình công nghệ sản xuất giống cà ra (Eriocheir sinensis. H.Milne - Edwards. Trạm Nghiên cứu NTTS Nước lợ Hải phòng.
  3. ^ Vũ Dũng (2002). Nghiên cứu ứng dụng quy trình kỹ thuật sản xuất giống và nuôi thương phẩm Cà ra (Eriocheir sinensis H.Milne -Edwards)ở ven biển miền Bắc.
  4. ^ “Sinh học và sản xuất giống cua đồng Eriocheir sinensis ở Trung Quốc”. Truy cập 26 tháng 6 năm 2014. 
  5. ^ The Biogeography of Chinese Mitten Crab, Eriocheir sinensis (Milne-Edwards, 1854).
  6. ^ É. Veilleux and Y. de Lafontaine (2007). Biological Synopsis of the Chinese Mitten Crab (Eriocheir sinensis. Canadian Manuscript Report of Fisheries and Aquatic Sciences 2812. PDF version.
  7. ^ “Hoang mang tin đồn cua Trung Quốc nhiễm chất gây ung thư”. Báo điện tử Người đưa tin. Truy cập 21 tháng 6 năm 2014. 
  8. ^ “Cua đồng Trung Quốc tràn ruộng Việt Nam? - VietNamNet”. VietNamNet. Truy cập 21 tháng 6 năm 2014. 
  9. ^ “Nghi án cua đồng nhiễm độc”. Báo điện tử của Báo Gia đình và Xã hội. Truy cập 21 tháng 6 năm 2014. 
  10. ^ “Thực hư tin đồn thả 'cua TQ' gây vô sinh ra sông - VietNamNet”. VietNamNet. Truy cập 21 tháng 6 năm 2014. 
  11. ^ “Thực hư tin đồn thả cua Trung Quốc gây vô sinh ra sông”. Zing.vn. 12 tháng 6 năm 2013. Truy cập 21 tháng 6 năm 2014. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]