Cung Duệ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cung Duệ
Hangul 궁예
Hanja (Hán tự) 弓裔
Romaja quốc ngữ Gung Ye
McCune-Reischauer Kung Ye

Cung Duệ (850 - 918, trị vì 901–918) là quốc vương duy nhất của Hậu Cao Câu Ly (901–918) trên bán đảo Triều Tiên. Mặc dù ông là một thành viên của vương thất Tân La, tuy nhiên ông đã trở thành nạn nhân trong cuộc tranh giành quyền lực nội bộ vương thát vào cuối thế kỷ thứ 9.[1][2] Ông sau đó trở thành mộ lãnh đạo nổi dậy chống lại triều đình Tân La vốn không được lòng dân, và lơ là việc quản lý do còn vướng vào các tranh chấp.[3]

Ra đời[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày sinh chính xác của Cung Duệ vẫn chưa rõ, song một số sử sách giả liệu rằng ông là vương tử của Hiến An Vương hay của Cảnh Văn Vương;[4] mẫu thân của ông được thuật lại là một phu nhân được yêu quý trong triều đình.[2][3]

Theo truyền thuyết, Cung Duệ được sinh ra vào tiết Đoan Ngọ; nhà tiên tri của vương thất đã tiên đoán rằng một đứa trẻ sinh vào tiết Đoan Ngọ sẽ mag đến tai họa cho đất nước, và các triều thần cùng các thành viên vương thất đã thuyết phục nhà vua giải thoát khỏi đứa trẻ này. Vì vậy, nhà vua lệnh cho hầu cận giết chết đứa trẻ. Tuy nhiên, khi binh lính đến chỗ của mẹ Cung Duệ, bà đã ném đứa trẻ từ lầu hai, với người hầu gái của bà nấp trong bụi cây gần đó để đỡ đứa bé. Mặc dù bà làm vậy là để đánh lừa quân lính, song người hầu gái đã vô tình chọc vào mắt trái của đứa bé và khiến Cung Duệ bị hỏng một mắt. Bà giấu Cung Duệ và nuôi ông một cách bí mật; khi bà chết, Cung Duệ trở thành một sư tăng Phật giáo tại Thế Đạt tự (세달사, Sedalsa).[2][3]

Một số sử gia cho rằng trên thực tế, Cung Duệ;à hậu duệ trực tiếp của An Thắng (Anseung), người từng trị vì Cao Câu Ly Quốc, một nhà nước hồi sinh thất bại của Cao Câu Ly. Sử sách Tân La Silla thuật rằng Cao An Thắng đã được ban cho họ vương thất của Tân La là "Kim." Vì vậy, Cung Duệ có thể là một hoàn tử của Tân La song việc ông là con trai của một vị quốc vương có thể không phải là sự thật.[5]

Khởi nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Vào thời điểm đó, người trị vì Tân La là Chân Thánh nữ vương, nữ vương thứ ba và cuối cùng trong lịch sử Triều Tiên. Chân Thánh nữ vương là một người bất lực trong việc cai trị và triều đình phần lớn nằm dưới sự can thiệp của các thành viên vương thất và nạn hối lộ tràn lan cũng diễn ra tại triều đình.[6] Triều đình tham nhũng tiếp tục vắt kiệt những người nông dân và kết quả là nạn đói, việc tăng sưu thuế vào năm 889 đã dẫn đến nhiều cuộc khởi nghĩa và nổi loạn.[2][3][7] Các quý tộc địa phương, được gọi là hào tộc (호족, 豪族, hojok) nổi lên là những người cai trị thực tế của các châu, trong khi triều đình tập trung vào việc đàn áp các cuộc nội dậy và các vấn đề quyền lực nội bộ.[8] Trong số các lãnh đọa nỏi dậy và quý tộc địa phương, Cơ Huyên (Gi Hwon) và Lương Cát (Yang Gil) có được sức mạnh lớn nhất.[3]

Cung Duệ đầu tiên gia nhập vào lực lượng của Cơ Huyên năm 891 song sớm ra đi sau đó do Cơ Huyên không đủ tin tưởng ông.[9] Cung Duệ gia nhập cuộc khởi nghĩa của Lương Cát vào năm 892,[10][11] và trở thành tướng lãnh đạo của các đội quân nổi dậy sau khi đánh bại quân Tân La tại địa phương và các nhóm nổi dậy khác. Hầ hết quý tộc địa phương ở MyeongjuPaeseo, bao gồm cả Vương Kiến (Wang Gun), đã gia nhập lực lượng của ông, khiến cho ông thậm chí còn mạnh hơn so với thủ lĩnh Lương Cát.[2][3] Tân La sau gần một thiên niên kỷ tồn tại đã suy kiệt nhanh chóng, và Cung Duệ đã lãnh đạo cuộc nổi dậy của mình tại Kaesŏng vào năm 898. Ông cuối cùng đánh bại Lương Cát và các lãnh chúa địa phương khác tại miền trung Triều Tiên và tuyên bố mình là quốc vương của Hậu Cao Câu Ly vào năm 901. Với việc nước Hậu Bách Tế của Chân Huyên (Gyeon Hwon) nằm quyền kiểm soát phần tây nam của bán đảo, ông đã mở ta thời đại Hậu Tam Quốc.[3][4]

Suy sụp[sửa | sửa mã nguồn]

Cung Duệ đổi tên nước thành Ma Chấn (Majin) vào năm 904, và dời đô đến Cheorwon (Thiết Nguyên) vào năm sau. Do Cheorwon là một thành nằm ở khu vực đồi núi, ông đã cho chuyển cư từ thành đông dân Cheongju và mở rộng kiểm soát đối với vùng Chungcheong, chiếm khoảng hai phần ba lãnh thổ từng do Tân La Thống nhất kiểm soát. Trong cùng năm, Cung Duệ chiếm Bình Nhưỡng và kêu gọi tiêu diệt nhà nước Tân La.[3][4]

Tuy nhiên, Cung Duệ đã bắt đầu để mất đi sự ủng hộ của những người thân tín trước đây. Ông cho rằng cách để đoàn kết những người trong tay mình là tôn giáo, và sử dụng đến việc là một sư tăng Phật giáo trước đây của mình, ông tự coi mình là Phật Di-lặc, người đến với thế giới đế hướng dẫn và cứu giúp những con người đau khỏ khỏi tất các các khó khăn, và trở thành một bạo chúa độc đoán.[12] Ông đổi tên vương quốc của mình thành Thái Bông vào năm 911.[3][4]

Trong những ngày sau của cuộc đời, Cung Duệ bắt đầu nghi ngờ lòng trung thành của gần như tất cả mọi người đối với mình. Ông buộc tội phản quốc và xử tử tất cả những ai chống đối, bao gồm cả Khang phu nhân và hai vương tử.[3] Do vậy, vào năm 918 bốn trong số những vị tướng cấp đầu của ông là Hồng Nho (홍유, 洪儒, Hong Yu), Dũng Huyền Khánh (배현경, 裵玄慶, Bae Hyeongyeong), Thân Sùng Khiêm (신숭겸, 申崇謙, Shin Sunggyeom) và Bốc Trí Khiêm (복지겸, 卜智謙, Bok Jigyeom) làm binh biến và đưa Vương Kiến (Wang Geon) lên làm vua.[2][12] Chẳng bao lâu sau, triều đại Cao Ly tuyên bố thành lập, và Vương Kiến đã đánh bại Tân La và Hậu Bách Tế để thống nhất abns đảo vào năm 936.[13]

Di sản[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù Cung Duệ đã không thể duy trì vị thế của mình và tái thống nhất bán đảo Triều Tiên dưới quyền của mình, nhiều học giả hiện đại đang cố gắng nhìn lại con người thực của Cung Duệ. Sử sách thuật về Cung Duệ chủ yếu là tiêu cực, do nhiều học giả trong thời Cao Ly đã có thể cố biện minh cho hành động cướp ngôi của Vương Kiến, để tạo nên tính hợp pháp cho vương triều này. Tuy nhiên, ngay sau khi thành lập Cao Ly, nhiều người đã bác bỏ sự trị vì của Vương Kiến và nổi dậy chống lại vương triều mới được lập ra; một số đã tự nguyện đào thoát sang Hậu Bách Tế của Chân Huyên (Gyeon Hwon). Có thể giả định rằng nhiều người, ngay cả sau cuộc binh biến của Vương Kiến, đã ủng hộ sự cai trị của Cung Duệ và ông không phải là một bạo chúa như sử sách đã miêu tả. Nhiều học giả giải thích việc Cung Duệ tự coi mình là Phật Di-lặc là để tăng cường quyền lực của ông, do ông, với thân phận là một thành viên vương thất Tân La, không có ảnh hưởng với các lãnh chúa và thương gia địa phương hùng mạnh, vì vậy ông đã cố sử dụng sức mạnh của tôn giáo để tiếp tục sự cai trị của mình, song việc này đã được chứng minh là không có hiệu quả.[3]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Korea through the Ages Vol.1 p111
  2. ^ a ă â b c d (tiếng Triều Tiên) Gung Ye at The Academy of Korean Studies
  3. ^ a ă â b c d đ e ê g h (tiếng Triều Tiên) Gung Ye at Encyclopedia of Korean Culture
  4. ^ a ă â b (tiếng Triều Tiên) Gung Ye at Doosan Encyclopedia
  5. ^ Seo Byeongguk (서병국), The History of Balhae Empire (발해제국사) p36, Seohaemunjib, Paju, 2005. ISBN 8974832429.
  6. ^ (tiếng Triều Tiên) Queen Jinseong at Doosan Encyclopedia
  7. ^ Korea through the Ages Vol.1 pp 100-101
  8. ^ Korea through the Ages Vol.1 p103
  9. ^ (tiếng Triều Tiên) Gi Hwon at The Academy of Korean Studies
  10. ^ (tiếng Triều Tiên) Yang Gil at Doosan Encyclopedia
  11. ^ Il-yeon,Samguk Yusa: Legends and History of the Three Kingdoms of Ancient Korea, translated by Tae-Hung Ha and Grafton K. Mintz. Book Two, page 126. Silk Pagoda (2006). ISBN 1596543485
  12. ^ a ă Korea through the Ages Vol.1 p112
  13. ^ (tiếng Triều Tiên) Taejo at Doosan Encyclopedia
  • The Academy of Korean Studies, Korea through the Ages Vol. 1, The Editor Publishing Co., Seoul, 2005. ISBN 89-7105-544-8