Cung Hàn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Cung Hàn(Hangul:활, Hwal) là một loại cung phức hợp xuất hiện khoảng đầu công nguyên trong thời kì hoàng đế Jumong nổi dậy giành quyền tự trị cho người Cao Ly.

cây cung truyền thống của Hàn Quốc khi chưa uốn

Thành phần[sửa | sửa mã nguồn]

Giống như mọi cây cung phức hợp,cung Hàn được chế tạo từ gỗ(tre),sừng động vật,gân và một số loại vật liệu khác.Những cây cung được làm trong bởi những người thợ truyền thống ở Hàn quốc hiện nay làm từ tre,sừng trâu nước,gân và gỗ đàn.Tuy nhiên,theo các tài liệu cổ Trung Quốc như Tam quốc chí thì gỗ đàn mới là thành phần chính của cung[1]: 樂浪檀弓出其地 Dịch: Lạc Lãng đàn cung xuất kì địa nghĩa là cây cung làm từ gỗ đàn của quận Lạc Lãng được làm từ nơi đây.

Ghi chép lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trong suốt một thời gian rất dài,cung Hàn được xem là loại cung tốt nhất trong khu vực Đông Á.Chất lượng của nó được ghi lại phổ biến trong nhị thập tứ sử từ Tam quốc chí,Hậu Hán thư cho đến Lương thư.Từ đầu thế kỉ thứ nhất,người Hán đã dùng chữ "夷" hay thuật ngữ Đông Di để nói về các bộ tộc sống ở khu vực Mãn Châu,bán đảo Triều Tiên và phía Nam nước Nga.Trong tác phẩm "Sở văn",Hứa Thận đã giải thích rằng: 夸从大从弓,東方之人

Khoa tòng đại tòng cung,Đông Phương chi nhân

Nghĩa là: chữ đại đi với chữ cung dùng để chỉ người sống ở phía Đông(Trung Quốc)vì những người này thường dùng đại cung(cung lớn). Tam quốc chí ghi lại tới 4 cây cung tốt được sử dụng ở khu vực bán đảo Triều Tiên[2]:

句麗作國,依大水而居,西安平縣北有小水,南流入海,句麗別種依小水作國,因名之爲小水貊,出好弓,所謂貊弓是也

Người Câu Ly dựng nước dựa vào sông lớn để định cư.Ở phía Bắc huyện Tây An Bình(Nam quận Huyền Thổ) cũng có sông nhỏ,phía Nam đổ ra biển;ở đây có một chủng người Câu Ly khác dựa vào để dựng nước nên có tên gọi là người "Tiểu thủy Mạch",họ chế ra cung tốt,xứng với tên gọi Mạch cung của nó

挹婁在夫餘東北千餘里,濱大海,南與北沃沮接,未知其北所極。其土地多山險。其人形似夫餘,言語不與夫餘、句麗同...其弓長四尺,力如弩,矢用楛,長尺八寸,青石爲鏃,古之肅慎氏之國也。善射,射人皆入(因)。矢施毒,人中皆死

Nước Ấp Lâu ở phía Đông Bắc của nước Phù Dư cách hơn nghìn dặm(khoảng 414 km),giáp biển,Nam tiếp phía Bắc của Ốc Trở,thưở xưa người ta cho rằng đây là cực Bắc của mặt đất.Đất có nhiều ngọn núi hiểm trở.Dân ở đây hình dáng giống người Phù Dư nhưng ngôn ngữ không giống với người Phù Dư và người Câu Ly...Cây cung của họ dài 4 thước(92 cm),bắn mạnh như nỏ[3],tên tẩm độc dài 1 thước 8 phân(48 cm),dùng đá xanh làm đầu tên,giống như người Túc Thận thời cổ.Nước giỏi bắn cung,bắn tên thường cắm sâu vào người.Mũi tên tẩm độc,người trúng chết ngay tức khắc

濊南與辰韓,北與高句麗、沃沮接...作矛長三丈,或數人共持之,能步戰。樂浪檀弓出其地

Nước Uế phía Nam tiếp Thần Hàn,Bắc tiếp Cao Câu Ly và Ốc Trở...Họ làm ra cây mâu chiến dài 3 trượng(6,93 m)cần vài người cầm,hay chiến đấu trên bộ.Cung đàn Lạc Lãng được làm từ nơi đây

Khi nhắc đến vũ khí,người Trung Hoa xưa thường quan niệm tiêu chuẩn của vũ khí tốt là: đại đao(đao to),cường nỗ(nỏ mạnh),cường cung(cung khỏe),trường mâu(giáo,mâu dài).Đoạn này Trần Thọ cho rằng người Uế có những vũ khí tốt theo tiêu chuẩn thời xưa. Những cây cung Hàn hiện nay có thể đưa những mũi tên đi 350 m,với đích tập luyện bình thường cách 145 m,mục tiêu cao 2,67 m và rộng 2 m.[4]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Trần Thọ,Tam quốc chí,Ô Hoàn Tiên Ti Đông Di liệt truyện
  2. ^ Trần Thọ,Tam quốc chí,Sđd
  3. ^ Thời xưa người Trung Quốc cho rằng nỏ là vũ khí bắn mạnh nhất
  4. ^ http://www.atarn.org/korean/korean1.htm

: