Dòng họ hậu duệ của vua Lê Lợi ở Thượng Trưng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Dòng họ Bùi[1] ngày nay ở xã Thượng Trưng, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc là dòng hậu duệ của vua Lê Lợi[2].

Sự hình thành dòng họ[sửa | sửa mã nguồn]

Theo gia phả đang lưu trữ thì cụ sơ tổ của dòng họ này là Lê Chân, con của Cung vương Lê Khắc Xương, cháu của Lê Nguyên Long, chắt của Lê Lợi. Vua Lê Thánh Tông đổi họ cho Cung vương Lê Khắc Xương sang họ bùi, Lê Chân là con của Lê Khắc Xương được mang họ Bùi gọi là Bùi Chân. Bùi Chân về ở Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc tới nay đã 527 năm (1480-2007), hình thành ra một dòng họ Bùi là hậu duệ của Lê Lợi ở đây.

Đổi sang họ Bùi[sửa | sửa mã nguồn]

Phạm Thị Ngọc Trần, vợ thứ hai của Lê Lợi, sinh ra Lê Nguyên Long ngày 20 tháng 11 Quý Mão (1423). Bà mất ngày 24 tháng 3 năm Ất Tỵ (1425), khi đó Nguyên Long mới 3 tuổi. Nguyên Long được giao cho Giám quan Bùi Cầm Hổ nuôi dạy. Sau này Nguyên Long lên ngôi (Lê Thái Tông) đã lấy con gái giám quan Bùi Cầm Hổ để trả cái ơn đó. Lê Thái Tông và thần phi Bùi Quý nhân sinh ra Cung vương Lê Khắc Xương ngày 4 tháng 5 năm Canh Thân (1440).

Lê Thái Tông có bốn người con trai với bốn bà cung phi là:

Năm Nhâm Tuất (1442), Lê Thái Tông bị cảm, băng hà tại Lệ Chi Viên, Lê Băng Cơ mới 2 tuổi được lên ngôi hoàng đế, tức là vua Lê Nhân Tông. Vì là dòng đích mà không được lên ngôi nên mùa đông năm Kỷ Mão (1459) Lê Nghi Dân đã giết vua Lê Nhân Tông và Thái hậu Nguyễn Thị Anh, tự mình lên làm vua và phong cho em là Lê Khắc Xương làm Cung vương, và Lê Tư Thành là Gia vương.

Các đại thần là Nguyễn Xí, Đinh Liệt xướng nghĩa giết phản nghịch giáng Nghi Dân xuống tước Hầu. Trong triều có người muốn đưa Lê Tư Thành lên làm vua, quan Tư Đồ Lê Lăng can rằng: Lê Tư Thành còn có người anh là Lê Khắc Xương, không nên bỏ anh lập em để lại dẫm vào vết xe đổ Băng Cơ - Nghi Dân. Ngày 7 tháng 6 Canh Thìn (1460) quan tư đồ Lê Lăng cùng triều thần đến đón Cung vương Lê Khắc Xương tôn lập hoàng đế, nhưng Lê Khắc Xương đã khước từ. Triều thần liền tôn lập Gia vương Lê Tư Thành lên ngôi, tức là vua Lê Thánh Tông (1460-1497). Sau khi lên ngôi Lê Thánh tông không hài lòng về chuyện này nên đã gán tội giết chết quan tư đồ Lê Lăng, bức hại cung vương Lê Khắc Xương[3]. Lê khắc Xương có người con trai duy nhất là Lê Chân[4].

Nhân chuyện quan Ngự sử Bùi Cầm Hổ có liên quan đến vụ án Lệ Chi Viên, nên năm Kỷ Hợi (1479), khi xét lại vụ án này và minh oan cho các trung thần bị hại, vua Lê Thánh Tông đã ban chiếu truy liệt cho Ngự sử, như sau:

Công sử Ngự - Nhân minh quang đại hiếu-Trung liệt
Toa qua nghị giáo trừng Tiên Đế-trĩ đồng từ
Vân thiên quang - đạt Lý đức hiền nhân - Tuấn khuê
Kim huynh Vương - Phụng đức trung Bùi Tính.
Cửu truyền lưu nhân chí - Thấu quốc Đế Nhân tứ tông - tỳ phương.

Nghĩa là: "Ngự sử công Bùi Cầm Hổ thực là Đại thần trung liệt đã đùm bọc và nuôi dạy Tiên đế ta từ thuở ấu thơ. Nay được đèn trời soi tỏ đức hạnh của người sáng như sao Khuê. Từ nay huynh Vương được đặc ân mang họ Bùi để mãi mãi tỏ rõ lòng ân quốc tính của Tiên Đế đối với dòng dõi người oan khuất".

Như vậy Vua Lê Thánh Tông đã đổi họ cho anh của mình là cung vương Lê Khắc Xương sang họ Bùi, thực chất là loại bỏ dòng dõi hoàng tộc của Lê Khắc Xương.

Sự định hình và phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Canh Tý (1480), Lê Chân (lúc này là Bùi Chân) đưa bà và mẹ về quê ngoại là làng Thượng Trưng phủ Bạch Hạc trấn Sơn Tây, nay là xã Thượng Trưng huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phúc. Vào thời nhà Mạc, Đức trai Bùi Hoằng là hậu duệ đời thứ 3 Bùi Chân, đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân khoa Mậu Tuất niên hiệu Đại Chính thứ 9 (1538) đời vua Mạc Đăng Doanh, đã hiến cho Thái thượng hoàng Mạc Đăng Dung kế sách giải pháp hoà bình trước sự thúc ép của nhà Minh. Tháng 8 năm Canh Tý (1540) Mạc Đăng Doanh tặng cho Tiến sĩ Bùi Hoằng "Kim tử vinh lộc đại phu" lấy chữ "Thủ" làm gương, và phong tước An Thủy bá. Vua Mạc tặng:

Tiến sĩ Bùi Hoằng An thủy bá là Thủ Ước
Hiển đức khảo tiên liệt Đức Nghị là Thủ Chính
Hiển đức tổ khảo tiên liệt là Thủ Chân.

Từ đây Lê Chân được gọi là Bùi Thủ Chân, là sơ tổ của dòng họ[5]. Họ Bùi là hậu duệ của Lê Lợi hiện nay đang tồn tại và phát triển ở Thượng Trưng, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc và hai nhánh ở Tiểu Quan, Phùng Hưng, Khoái Châu, Hưng Yên và Gia Viễn, Hoa Lư, Ninh Bình.

Một số khoa bảng[sửa | sửa mã nguồn]

Theo gia phả thì dòng họ này có 5 tiến sĩ đại khoa, hiện nay tìm và khớp được với 3 bia trong Văn miếu và có trong sách "Các Nhà Khoa Bảng Việt Nam"[6] gồm:

  • Bùi Hoằng: 33 tuổi đỗ đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) Khoa Mậu Tuất niên hiệu Đại chính 9 (1538) đời Mạc Đăng Doanh, làm quan đến Thừa chính sứ tước An Thủy bá.
  • Bùi Công Tốn: 37 tuổi đỗ đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) Khoa Ất Sửu niên hiệu Chính hòa 6(1685) đời vua Lê Hy Tông.
  • Bùi Quang Vận: 28 tuổi đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Quý Sửu niên hiệu Dương Đức 2 (1673) đời Lê Gia Tông làm quan đến chức Giám sát, Ngự sử.

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Hiếu học và khuyến học của dòng họ Bùi
  2. ^ Gia phả của dòng họ này có sách "Bùi Gia Bảo Thủ Chân Thế Phả" do Quang Viễn Thọ Lộc Hầu (hậu duệ đời thứ 5 của Lê Chân tức Bùi Thủ Chân) viết năm 1615. Bùi Công Tốn Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân khoa Ất Sửu niên hiệu Chính Hoà thứ 6 đời vua Lê Hy Tông 1685 (hậu duệ đời thứ 7 Bùi Thủ Chân) viết kế tục. Đến Lương Công bộ Thận Trai ngự sử triều Lê Hiển Tông (hậu duệ đời thứ 12 Bùi Thủ Chân) kế tục tiếp theo.
  3. ^ Sách Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, trang 540
  4. ^ Có sách chép rằng Cung vương Lê Khắc Xương còn có người con nữa là Tĩnh Tu công (Lê) Lộc. Ông này có 2 con nghe nghịch thần dựng lên làm phản, bị Mạc Đăng Dung giết.
  5. ^ Thời phong kiến được vua ban cho chữ là điều vinh hạnh, vua Mạc Đăng Doanh tặng cho Bùi Hoằng và 2 đời (Tổ khảo và Khảo) chữ "Thủ". Bùi Chân được ban thêm chữ Thủ là Bùi Thủ Chân.
  6. ^ http://www.vinabook.com/product/product_detail.php?product_id=19799 Các Nhà Khoa Bảng Việt Nam