Dương Quý Phi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Dương Quí Phi)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Dương Quý Phi
楊貴妃
Tu Hoa mỹ nhân
上马图.jpg
Tranh vẽ Dương Quý Phi cưỡi ngựa
Quý phi nhà Đường
Tại vị 745 - 756
Thông tin chung
Phối ngẫu Thọ vương Lý Mạo
Đường Minh Hoàng
Tên đầy đủ Dương Ngọc Hoàn (楊玉環)
Thân phụ Dương Huyền Diễn
Thân mẫu Lương phu nhân
Sinh 26 tháng 6, 719
Tứ Xuyên, Trung Quốc
Mất 15 tháng 7, 756 (37 tuổi)
Mã Ngôi Dịch, Hàm Dương, Thiểm Tây, Trung Quốc
An táng Mã Ngôi Dịch, Hàm Dương, Thiểm Tây
(chỉ là mộ gió)
Dương Quý Phi-người đẹp hoa nhường
Tranh của Hosoda Eishi đầu thế kỷ 19 tại viện bảo tàng Anh
Tượng Dương Quý phi tại Hoa Thanh Trì
Dương Quý Phi, tranh lụa của Takaku Aigai tại bảo tàng mỹ thuật SEIKADO BUNKO
Đường Minh Hoàng và Dương Quý phi, đứng trên sân thượng. Tranh vẽ bởi Kanō Eitoku (1543–1590)
Dương Quý Phi cưỡi ngựa, tranh của Tiền Tuyển (钱选)

Dương Quý Phi (chữ Hán:楊貴妃, 719 – 15 tháng 7 năm 756[1]), tên hiệu Thái Chân (太真)[2] là một phi tần của Đường Minh Hoàng. Nàng được xếp vào một trong Tứ đại mỹ nhân của lịch sử Trung Quốc, có sắc đẹp khiến hoa thu mình lại vì hổ thẹn (tu hoa).

Câu chuyện về tình duyên giữa nàng và Đường Minh Hoàng thường được nhắc đến với khung cảnh ước lệ, xa hoa tột đỉnh của giai đoạn nhà Đường đang thịnh thế, và sự yêu chiều một cách thái quá đối với nàng của Đường Minh Hoàng là nguyên nhân khiến người ta cho rằng nhà Đường đều do nàng mà suy vong.

Sắc đẹp của nàng thường được so sánh một cách đối lập với Triệu Phi Yến nhà Hán.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Dương Quý Phi tên thật là Dương Ngọc Hoàn (楊玉環), sinh ngày 1-6-719, tại Thục Quận (nay là Thành Đô – tỉnh Tứ Xuyên), nguyên quán Bồ Châu[3]. Bà là con út trong số bốn người con gái của một vị quan tư hộ đất Thục Chân. Gia đình này nguyên gốc ở một quận nhỏ thuộc Trung Đông[4], là Hòa Âm đến đây lập nghiệp.

Cha là Dương Huyền Diễn thuộc dòng khá giả vì tổ phụ từng làm thứ sử tại quận Kim. Xuất thân trong gia đình quan lại, cùng gia quyến sống ở Tứ Xuyên, từ nhỏ học hát, múa... Đến năm 10 tuổi, cha mẹ mất, mới đến Lạc Dương[5], sống với nhà bác ruột.

Thọ vương phi[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 733, khi 14 tuổi, Võ Huệ Phi (phi tần của Đường Minh Hoàng) chọn Ngọc Hoàn làm vợ của hoàng tử thứ 18 của Đường Minh Hoàng là Thọ Vương Lý Mạo, Dương Ngọc Hoàn trở thành Thọ Vương phi. Thọ vương Lý Mạo tính nhút nhát, thích ngắm mỹ nhân. Dương Ngọc Hoàn làm Thọ Vương phi được ba năm, nhưng chuyện chăn gối chưa bao giờ có vì Lý Mạo còn nhỏ. Khi ấy, Ngọc Hoàn lại trong tuổi đương xuân.

Thái Chân[sửa | sửa mã nguồn]

Đời nhà Đường, Đường Minh Hoàng tức Huyền Tông là một hoàng đế trị vì lâu hơn cả. Các phi tần được hoàng đế sủng ái sinh cả thảy 59 người con, trong số đó có 30 trai và 29 gái. Phi tần được ông sủng ái nhất là Võ Huệ Phi. Huệ phi sinh được 7 con, nhưng bỏ mất 3 khi còn nhỏ. Năm 737, Huệ Phi mất, Huyền Tông buồn rầu, ngày nhớ đêm thương, lập đài Tập Linh để cầu siêu cúng vái cho vong hồn Huệ Phi được sớm siêu thăng. Nội giám thấy ông vậy bèn tìm đủ mọi cách làm cho hoàng đế nguôi buồn. Nhưng bao nhiêu cung tần mỹ nữ cũng không làm Huyền Tông khuây khỏa.

Một hôm Cao Lực Sĩ đi qua phủ Thọ vương thấy Ngọc Hoàn là giai nhân tuyệt sắc, bèn nghĩ rằng có lẽ mỹ nhân này thay được Võ Huệ Phi. Nhân buổi hầu vua, Cao Lực Sĩ mật tấu với Huyền Tông, truyền đưa Dương Ngọc Hoàn vào Tập Linh đài để trông coi đèn nhang sớm hôm cầu nguyện cho Võ Huệ Phi. Do đó, Ngọc Hoàn phải vào cung Hoa Thanh đến đài Tập Linh làm sãi, lấy đạo hiệu là Thái Chân (太真). Cao Lực Sĩ lại chọn gả con gái của Vị Chiêu Huấn (韋昭訓) để thay Ngọc Hoàn làm vợ Thọ vương. Xem như xuất gia là thay đổi đời người, không còn là vợ của vương tử Lý Mạo nữa.

Quý phi[sửa | sửa mã nguồn]

Trông thấy Ngọc Hoàn, Huyền Tông say mê mẩn ngay, từ đó dần quên đi Huệ Phi. Năm 745, Huyền Tông lập nàng làm quý phi, lại thụy phong Dương Huyền Diễn làm Binh bộ thượng thư. Ba người chị của Ngọc Hoàn cũng được phong làm phu nhân là Hàn quốc phu nhân, Quốc quốc phu nhân và Tần quốc phu nhân. Hàng tháng, hoàng đế cho xuất của kho 30 vạn quan tiền cho mỗi vị phu nhân, 10 vạn quan tiền mua sắm tư trang phấn sáp. Anh trai quý phi là Dương Xuyên được phong làm tể tướng và được đổi tên là Dương Quốc Trung.

Huyền Tông say đắm Dương Quý Phi, chiều chuộng nàng hết mực. Như cuộc đi tắm suối của nàng tại Hoa Thanh Trì mỗi lần tốn hàng vạn bạc của quốc khố và làm chết hàng trăm mạng người, hoàng đế cũng thẳng tay, không chút tiếc rẻ. Dương Quý Phi đã đẹp lại có tài gẩy tì bà, giỏi về âm nhạc. Nàng lại đặt được nhiều khúc hát và điệu múa làm cho Huyền Tông càng thích thú say sưa hơn. Nàng nổi tiếng với điệu múa Hồ hoàn vũ, là điệu múa xuất phát từ người Hồ.

Người hầu hạ trong viện của Quý phi có đến hơn 100. Các đại thần bên ngoài muốn được Huyền Tông trọng dụng đều chủ động dâng lễ vật quý cho Quý phi. Nhiều người được thăng tiến bằng con đường này. Trong hậu cung của Huyền Tông, từ khi Dương Quý phi xuất hiện thì các phi tần khác đều rất khó được ân hạnh nữa.

Dương Quý phi tuy có nhan sắc nhưng tính nết ương ngạnh, nhiều lần đắc tội và xung đột với Huyền Tông. Tháng 2 ÂL năm 750, sau một lần xung đột, Quý phi bị đuổi khỏi cung. Nhưng có tên hoạn quan cầu xin cho Quý phi, do đó Huyền Tông hối hận, triệu Quý phi về và sủng ái hơn trước. Từ đó ông sa vào tửu sắc và hoang dâm, sủng ái Dương Quý phi quá mức, bắt đầu bỏ bê việc nước.

Huyền Tông gặp Dương Quý Phi lúc tuổi đã ngoài 50, cơ thể suy nhuợc vì trải qua những thú vui sắc dục thái quá. Hoàng đế nhờ An Lộc Sơn dâng một thứ linh đan gọi là "Trợ tình hoa" giúp có nhiều sức khỏe để được hòa hợp vui say cùng Dương Quý Phi.

Sau thời thịnh trị Khai Nguyên, Đường Huyền Tông cao tuổi, sa vào hưởng lạc, không còn nhiệt tình với chính sự, lại thích theo đuổi thuật trường sinh bất lão. Huyền Tông giao toàn quyền triều chính cho tể tướng Lý Lâm Phủ, hưởng lạc cùng Dương Quý Phi trong cung cấm. Lý Lâm Phủ tự mình cầm quyền trong suốt 19 năm, hãm hại nhiều người trung lương, thi hành chính sách nhân sự ngăn cản các tướng có tài vào triều đắc dụng, trở thành một tác nhân gây ra loạn An Sử.

Tư thông với An Lộc Sơn và loạn An-Sử[sửa | sửa mã nguồn]

Huyền Tông say đắm Dương Quý Phi, suốt ngày đêm cùng nàng yến tiệc đàn ca, bỏ cả việc triều chính. Hoàng đế lại tin dùng An Lộc Sơn cho giữ phần chỉ huy nửa lực lượng quân sự của triều đình. An Lộc Sơn là người Liễu Thành, tên thật là An Rokhan, người dân tộc Túc Đặc. Lộc Sơn nguyên mang họ Khang, nhưng sau đó bà mẹ cải giá với An Diên Yểm nên lấy họ An. Lộc Sơn là phiên âm tiếng Hán của chữ Lushi, theo tiếng bản tộc có nghĩa là "ánh sáng".

Lộc Sơn đầu quân làm tướng nhà Đường, nhờ chiến đấu dũng cảm và tỏ ra trung thành nên nhanh chóng được thăng tiến. Từ năm 740 đến năm 751, An Lộc Sơn được thăng từ đô đốc Doanh châu lên Tiết độ sứ ba trấn Phạm Dương, Hà Đông và Bình Lư, nắm toàn bộ vùng đông bắc Trung Quốc khi đó.

Tuy có trí thông minh nhưng Lộc Sơn luôn tỏ ra vụng về ngốc nghếch khiến Đường Huyền Tông rất tin tưởng và nhận ông làm con nuôi. Dương Quý Phi trở thành mẹ nuôi của Lộc Sơn, dù kém ông 16 tuổi. Tuy nhiên chính từ lúc ra vào triều kiến vua Đường, Lộc Sơn và Dương Quý Phi bắt đầu có quan hệ lén lút nhưng Huyền Tông không hề nghi ngờ mà càng thêm tín nhiệm Lộc Sơn. An Lộc Sơn to béo bụng phệ, theo sử sách ghi lại thì người nặng tới 330 cân[6]. Huyền Tông thấy vậy hỏi, Lộc Sơn lại mau miệng đáp rằng bụng to vì mang lòng trung với vua Đường. Huyền Tông nghe thế lại càng tin Lộc Sơn.

Bấy giờ, anh Dương Ngọc Hoàn là Dương Quốc Trung nắm giữ toàn quyền binh lực. Sau khi lên đến bực thượng thư và hai con trai là Dốt và Huyên sánh duyên cùng hai quận chúa Vạn Xuân và Diên Hòa, Dương Quốc Trung lại càng kiêu hãnh, tự đắc, có ý định phản nghịch. Dương Quốc Trung và An Lộc Sơn cùng tranh giành sự ân sủng của Đường Huyền Tông nên nảy sinh mâu thuẫn ngày càng gay gắt. Thấy An Lộc Sơn như cái gai trước mắt nên định mưu hại. An Lộc Sơn biết được nên bỏ trốn.

Ngày Giáp Tý (16) tháng 11 năm Ất Mùi (tức 16 tháng 12 năm 755), với danh nghĩa "phụng mật chiếu hoàng đế thảo phạt Dương Quốc Trung", An Lộc Sơn khởi binh từ Ngư Dương[7] đánh thẳng vào kinh đô Trường An, chính thức phản lại nhà Đường. Binh triều đại bại.

Vào mùa hạ năm 756, quân của An Lộc Sơn tiến về Trường An[8]. Trước tình thế nguy cấp, thái tử Lý Hanh tự lên ngôi ở núi Linh Vũ, tức là Đường Túc Tông và vọng tôn Đường Minh Hoàng làm Thái thượng hoàng. Trong khi các cánh quân được vua con Túc Tông cử đi đánh Lộc Sơn là Lý Quang Bật, Quách Tử Nghi đang thắng liên tiếp, giành lại nhiều đất đai ở phía đông nằm sau lưng An Lộc Sơn thì Huyền Tông lại mắc sai lầm lớn ở mặt trận phía tây. Thương hoàng bắt tướng Kha Thư Hàn người trấn giữ ải Đồng Quan, cửa ngõ kinh thành Tràng An, phải xuất quân đánh Lộc Sơn. Trong khi đó các tướng muốn phòng thủ phải chờ quân của Quách Tử Nghi và Lý Quang Bật đánh về. Kha Thư Hàn buộc phải ra quân, kết quả đại bại, 20 vạn quân bị giết, Hàn bị Sơn bắt sống. Quân Phiên ào ạt tiến vào Tràng An.

Chết ở Mã Ngôi Dịch[sửa | sửa mã nguồn]

Đường Huyền Tông và Dương Quý Phi cùng một số quần thần phải bỏ kinh thành chạy vào đất Thục. Ngày 14 tháng 7 năm 756[9] , mọi người đến Mã Ngôi thì tướng sĩ không chịu đi nữa, vì lương thực đã hết, quân sĩ khổ nhọc mà Dương Quốc Trung và cả gia quyến đều no đủ sung sướng, nên họ nổi lên chống lại. Dương Quốc Trung ra lệnh đàn áp nhưng bị loạn quân giết chết. Lòng căm phẫn đối với họ Dương chưa tan, loạn quân bức vua đem thắt cổ Dương Quý Phi thì họ mới chịu phò vua. Vì họ cho rằng Quý Phi là mầm sinh đại loạn, thậm chí còn nghi ngờ Dương Quý Phi sẽ trở thành một Võ hậu thứ hai gây họa cho nhà Đường.

Binh sĩ tâu:

Quốc Trung mưu phản, không nên để Quý Phi hầu hạ ở bên bệ hạ nữa, xin bệ hạ vì quốc pháp mà cắt bỏ tình riêng.

Huyền Tông do dự, vào bên trong. Lát sau, cuối đầu đi ra. Kinh Triệu doãn Triệu Tư Lục cùng Vi Ngạc đều khuyên ông phải thuận theo tình thế. Ông nói với Cao Lực Sĩ:

Quý Phi ở trong thâm cung, sao biết được Quốc Trung mưu phản?.

Lực Sĩ nói

Quý Phi quả thật vô tội, nhưng nay tướng sĩ đã giết Quốc Trung rồi, mà Quý Phi còn sống bên cạnh bệ hạ, tướng sĩ đâu có yên lòng? Xin bệ hạ suy xét kỹ lại. Tướng sĩ được yên lòng, tức bệ hạ được bình an.

Ngày 15 tháng 7 [1], Minh Hoàng không còn cách nào, đành ban cho Quý phi một dải lụa trắng, cho Lực Sĩ thắt cổ Quý Phi[10]. Huyền Tông đau xót, cũng không dám chứng kiến cảnh ấy. Lúc chết Dương Quý Phi 38 tuổi. Sau khi chết, xác Quý Phi chỉ là chôn vội ven đường, sau đó binh lính hành quân tiếp.

Có thuyết nói rằng Dương Quý Phi may mắn thoát chết và bỏ sang sống tại Nhật Bản cho đến khi mất ở tuổi 60. Điều này hoàn toàn là không thể, vì hoàng đế sai hoạn quan Cao Lực Sĩ xiết cổ chết Dương Quý Phi, còn phải đem thi thể cho quan lính kiểm tra, nên không thể có chuyện trốn thoát sang Nhật định cư được.

Có thuyết thì cho rằng nàng đã sang Hàn Quốc (xưa gọi là Cao Ly), hay lưu lạc trong dân gian. Nhưng phim ảnh đã dựa vào thuyết trên để hư cấu thêm, như phim Dương Quý Phi bí sử cũng làm như vậy, khiến các nhà sử học Trung Quốc rất bất bình, cho rằng lịch sử bị bóp méo, giới trẻ sẽ không hiểu được sự thật lịch sử Trung Quốc nữa. Các nhà tâm lý học thì phân tích rằng những giả thuyết cho rằng Dương Quý Phi không chết cũng xuất phát từ tâm lý ngưỡng mộ chuyện tình lãng mạn của họ, được thơ văn ca tụng, tâng bốc, đồng thời cũng là ước mơ kết thúc có hậu của người dân.

An Lộc Sơn chiếm được Trường An, ra lệnh cho quân lính đốt phá kinh đô, tàn sát nhân dân.

Sau đó, An Lộc Sơn bị con của mình là Khánh Tự giết chết. Bộ tướng Sử Tư Minh lại giết Khánh Tự, sau đó Sử Tư Minh lại bị con mình là Sử Triêu Nghĩa giết chết khiến các bộ tướng lần lượt hàng nhà Đường. Túc Tông khôi phục sự nghiệp, rước vua cha Minh Hoàng trở về Trường An.

Mộ gió[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 757, sau khi Dương Quý Phi chết 2 năm, Đường Túc Tông dẹp loạn xong. Sau khi qua trạm dịch Mã Ngôi, Thượng hoàng sai tìm di thể của Dương Quý Phi để cải táng nhưng lúc đó di thể đã mục nát thối rữa, không thể nhận ra được, chỉ còn một túi gấm bên cạnh vẫn tỏa hương thơm. Thượng hoàng bèn giữ lấy, đem về và thường xuyên ngắm nhìn, như thể Quý phi còn sống. Thái Thượng Hoàng Đường Minh Hoàng cho người xây lại mộ cho Dương quý phi, nhưng vì không tìm được thi thể, nên chỉ xây mộ gió[11] để tưởng niệm.

Hiện tại mộ của Dương Quý Phi ở tỉnh Thiểm Tây, cách thành phố Tây An 60 km [12], trở thành điểm tham quan, du lịch, di sản văn hoá cấp tỉnh.

Các du khách thường nghe theo truyền thuyết kể rằng, đất xung quanh nấm mộ của Dương Quý Phi trắng đặc biệt, có tác dụng làm trắng da, nên du khách đến viếng mộ thường lấy ít đất xung quanh đem về thoa mặt. Nay để tránh phá hoại di tích, ban quản lý đã cho rào lại xung quanh khu mộ, và cấm du khách lấy đất về. Thực chất, đây chỉ là mộ gió, xác của Dương Quý Phi bị chôn vội trên đường đi lánh nạn, nên vài năm sau đã không tìm lại được tung tích. Do đó, chỉ xây mộ gió tại khu vực bị xử tử để tưởng niệm mà thôi.

Vẻ đẹp trong thơ ca[sửa | sửa mã nguồn]

Theo sử sách, vào đời Đường, phụ nữ được cho là đẹp, hấp dẫn thì phải tròn trịa, mập mạp. Trong tục ngữ, thành ngữ tiếng Hoa ngày nay vẫn còn câu: Yến sấu Hoàn phì (燕瘦環肥) (Tức là Yến ốm Hoàn mập, Yến là chỉ người đẹp thời Hán: Triệu Phi Yến, Hoàn là chỉ Dương Ngọc Hoàn thời Đường, ý câu thành ngữ là mỗi người một vẻ đẹp khác nhau). Thực sự tranh vẽ Dương Quý Phi đời trước chỉ phù hợp với thẩm mỹ thời Đường khác thời nay rất nhiều.

Ngọc Hoàn có sắc đẹp được ví là "tu hoa", nghĩa là khiến hoa phải xấu hổ.

Sau khi vào cung, Ngọc Hoàn tư niệm cố hương. Ngày kia, nàng đến hoa viên thưởng hoa giải buồn, nhìn thấy hoa Mẫu Đơn, Nguyệt Quý nở rộ, nghĩ rằng mình bị nhốt trong cung, uổng phí thanh xuân, lòng không kềm được, buông lời than thở: "Hoa à, hoa à! Ngươi mỗi năm mỗi tuổi đều có lúc nở, còn ta đến khi nào mới có được ngày ấy?". Lời chưa dứt lệ đã tuông rơi, nàng vừa sờ vào hoa, hoa chợt thu mình, lá xanh cuộn lại. Nào ngờ, nàng sờ phải là loại hoa trinh nữ (cây xấu hổ). Lúc này, có một cung nga nhìn thấy, người cung nga đó đi đâu cũng nói cho người khác nghe việc ấy. Từ đó, mọi người gọi Dương Ngọc Hoàn là "tu hoa".

Truyền kỳ về Dương Quý phi đã đi vào rất nhiều thơ ca của nhiều thế hệ. Thi hào Lý Bạch có ba bài Thanh bình điệu ca tụng sắc đẹp của Ngọc Hoàn. Bài đầu tiên:

Thanh bình điệu
Vân tưởng y thường, hoa tưởng dung,
Xuân phong phật hạm, lộ hoa nùng.
Nhược chi quần ngọc sơn đầu kiến,
Hội hướng Đao đài nguyệt hạ phùng.
Ngô Tất Tố dịch
Thoáng bóng mây hoa, nhớ bóng hồng.
Gió xuân dìu dặt giọt sương trong
Ví chăng non ngọc không nhìn thấy,
Dưới nguyệt đài Dao thử ngóng trông.

Thi sĩ Bạch Cư Dị có bài Trường hận ca nổi tiếng kể về chuyện tình giữa bà và Đường Huyền Tông.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích và tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă 兩千年中西曆轉換
  2. ^ Cựu Đường thư, vol. 51.
  3. ^ Nay là ngoại ô thành phố Tây An- tỉnh Thiểm Tây
  4. ^ tức Thiểm Tây
  5. ^ Xưa là Đông Đô của nhà Đường, nay thuộc tỉnh Hà Nam
  6. ^ Tương đương 115 kilôgam hiện nay
  7. ^ Có sách chép là Phạm Dương
  8. ^ 兩千年中西曆轉換
  9. ^ 兩千年中西曆轉換
  10. ^ Tân Đường thư, quyển 76, liệt truyện 1
  11. ^ Trong mộ không có thi thể
  12. ^ Xưa là Trường An, kinh đô nhà Đường

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]


Tứ đại mỹ nhân Trung Hoa
Tây Thi • Vương Chiêu Quân • Điêu Thuyền • Dương Quý Phi