Dương Văn Đức

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Trung tướng Dương Văn Đức (1927 - 1983) là một sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, nguyên Tư lệnh Quân đoàn IV. Ông được biết đến với vai trò chỉ huy một cuộc đảo chính lật nhằm lật đổ Nguyễn Khánh vào ngày 14 tháng 9 năm 1964. Ông là người ủng hộ Đại Việt Quốc dân đảng, một phong trào chính trị Công giáo Rôma.

Cựu binh Quân đội Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 7 năm 1946 ông học tại Trường Võ bị Liên quân Viễn Đông tại Đà Lạt. Trường chỉ khai giảng một khóa duy nhất, với 16 sĩ quan tốt nghiệp. Những sĩ quan tốt nghiệp trường này gồm có hai đại tướng Nguyễn KhánhTrần Thiện Khiêm; trung tướng Trần Ngọc Tám và Dương Văn Đức; các thiếu tướng Nguyễn Văn Kiểm (chánh võ phòng của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu); Lâm Văn Phát; Bùi Hữu Nhơn; Cao Hảo Hớn; và Dương Ngọc Lắm [1].

Khi Quân đội Quốc gia Việt Nam được thành lập, ông là một trong những chỉ huy chiến trường. Năm 1952 ông giữ chức Thiếu tá, Chỉ huy trưởng Bảo an tỉnh Sóc Trăng, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 5 BVN, ứng chiến lưu động nổi tiếng tại chiến trường miền Tây. Ông có tiếng là làm nhiều hơn nói, ít noí, uy nghiêm, chỉ là một quân nhân thuần túy.

Năm 1954 ông giữ cấp bậc Đại tá.

Bình định Miền Tây[sửa | sửa mã nguồn]

Trong những ngày đầu của Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa, ông được trọng dụng, làm Chỉ huy trưởng Phân khu Sóc Trăng. Ngày 23.5.1955, chính phủ quyết định cho thành lập Khu Chiến Miền Tây bao gồm ba Phân Khu Vĩnh Long, Cần Thơ và Sóc Trăng. Ông được chỉ định làm Chỉ Huy Trưởng Khu Chiến này. Nhiệm vụ Khu Chiến này là bình định miền Tây.

Ngày 5.6.1955, Đại Tá Đức được cử chỉ huy Chiến Dịch Đinh Tiên Hoàng bình định miền Tây Nam Phần. Ông cho quân tiến chiếm Cái Vồn (Cần Thơ), phá tan đại bản doanh của Tướng Trần Văn Soái. Ngày 29.6.1955 ông tiến vào núi Ba Chúc, tấn công lực lượng của Tướng Lê Quang Vinh, tức Ba Cụt. Do địa bàn chiến dịch quá rộng nên chưa thể giành thắng lợi ngay. Cố vấn Ngô Đình Nhu sốt ruột và đề nghị Bộ trưởng Nội vụ Nguyễn Ngọc Thơ tìm chỉ huy khác thay thế. Ngày 29.12.1955, ông Diệm đã ra lệnh chấm dứt chiến dịch Đinh Tiên Hoàng do ông chỉ huy và cho Đại tá Dương Văn Minh lên thay. Để bù lại Thủ tướng Ngô Đình Diệm phong Đại Tá Đức lên Thiếu tướng.

Đại sứ tại Nam Hàn[sửa | sửa mã nguồn]

Tướng Đức tỏ vẽ bất bình về chuyện chấm dứt công tác một cách đột ngột này. Do đó, ngày 10.6.1956, Thủ tướng Ngô Đình Diệm phải cử ông đi làm Đại Sứ tại Nam Hàn. Tại đây ông quen và cưới vợ người Đức là nhân viên Tòa đại sứ Cộng hòa Liên bang Đức tại Nam Hàn.

Về nước[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1958 sau khi đi học khóa chỉ huy và tham mưu ở Mỹ về ông nhận chức Tổng Thư ký Thường trực Quốc Phòng thay tướng Dương Văn Minh.

Sau đó, ông đã có vấn đề cá nhân với Tổng thống Ngô Đình Diệm nên từ chức và sống lưu vong ở Pháp, trước khi trở về sau vụ bắt giữ và sát hại hai anh em Ngô Đình Diệm sau một cuộc đảo chính năm 1963.

Tư lệnh Quân đoàn IV[sửa | sửa mã nguồn]

Ông là một trợ tá của tướng Lê Văn Kim, một tướng trong chính quyền quân sự cầm quyền, nhưng đã được mời tham gia vào một âm mưu đảo chính bởi các tướng Nguyễn Khánh, Trần Thiện KhiêmĐỗ Mậu. Vào thời điểm đó, Pháp đã ủng hộ cho miền Nam Việt Nam trở nên trung lập, và sự rút lui của Hoa Kỳ. Đức sử dụng kinh nghiệm của ông về Pháp để soạn thảo văn bản giả mạo nội dung chính quyền quân sự Dương Văn Minh muốn thuận theo đề nghị của Pháp. Các tài liệu này được trình cho người Mỹ để đảm bảo họ sẽ hỗ trợ và Khánh lật đổ Minh trong tháng 1 năm 1964 mà không có một cuộc giao chiến.

Dương Văn Đức đã được tưởng thưởng với hàm Trung tướng, Chỉ huy Quân Đoàn IV giám sát khu vực đồng bằng sông Cửu Long từ Định Tường đến Cà Mau, trước khi bị cách chức trong tháng 9, cùng với người chỉ huy của Quân Đoàn III và Bộ trưởng Nội vụ Lâm Văn Phát.

Binh biến chống tướng Nguyễn Khánh[sửa | sửa mã nguồn]

Điều này khiến hai người tiến hành một cuộc đảo chính chống lại Nguyễn Khánh vào ngày 13 tháng 9. Ngày 13 tháng 9 năm 1964, Trung tướng Dương Văn Đức, thiếu tướng Lâm Văn Phát và đại tá Huỳnh Văn Tồn từ Cần Thơ, chỉ huy Quân đoàn 4 về làm binh biến. Thiếu tướng Nguyễn Văn Thiệu trong vai trò tham mưu trưởng liên quân đã yêu cầu tướng Nguyễn Chánh Thi đem quân về dẹp tan cuộc binh biến này. Ban đầu họ chiếm đô thành Sài Gòn không phải giao chiến, nhưng tướng Khánh trốn thoát, và sau khi nhận được xác nhận hậu thuẫn từ Hoa Kỳ, đã đánh bại những kẻ âm mưu đảo chính.

Ngày 15 tháng 9, tướng Nguyễn Khánh trở về Sài Gòn, tuyên bố cách chức và buộc giải ngũ tướng Dương Văn Đức, Lâm Văn Phát và một số sỹ quan cao cấp chỉ huy đảo chính. Tuy vậy, không ai trong số họ bị bắt giữ và vẫn được tự do.Tại phiên tòa quân sự sau đó, các cáo buộc đã bị hủy bỏ.

Cuối cùng tướng Nguyễn Khánh phải rời bỏ chính trường Việt Nam Cộng hòa.

Xuất ngũ và tù đày[sửa | sửa mã nguồn]

Sau đó ông từ bỏ các hoạt động liên quan đến chính trị. Năm 1975 chế độ Việt Nam Cộng hòa sụp đổ, ông bị Chính quyền Cách mạng bắt giam 8 năm trong đó 1 năm tù tại miền nam, 7 năm biệt giam tại các nhà tù miền bắc. Ông luôn tỏ ra can đảm, bất khuất. Ông mất không lâu sau khi ra tù.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]