Dương Văn Đức

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Dương Văn Đức (1925-2000) nguyên là một tướng lĩnh bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, mang quân hàm Trung tướng. Xuất thân từ khóa đầu tiên Trường Võ bị do Quân đội Pháp mở tại Đà Lạt nhằm đào tạo các sĩ quan người Việt. Nguyên Tư lệnh Quân đoàn IV Việt Nam Cộng hòa. Ông được biết đến với vai trò chỉ huy một cuộc đảo chính lật nhằm lật đổ tướng Nguyễn Khánh vào ngày 14 tháng 9 năm 1964. Ông là người ủng hộ Đại Việt Quốc dân đảng, một phong trào chính trị Công giáo Rôma. Ông cũng là một sĩ quan lên cấp tướng ở tuổi trẻ nhất trong Quân đội Việt Nam Công hòa (được phong cấp Thiếu tướng năm 1956 khi mới 31 tuổi).

Tiểu sử & gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh năm 1925 tại Thủ Đức, Gia Định, miền Nam Việt Nam. Tốt nghiệp Trung học Đệ nhị cấp chương trình phổ thông Pháp tại Sài Gòn.

  • Phu nhân (chính thất): Bà Nguyễn Thị Ba (sinh hạ 3 người con gồm 2 trai, 1 gái)
  • Thứ thất: Bà Ilse Meyfarth (người Đức, sinh hạ 3 người con gồm 2 trai, 1 gái. Ly dị với ông năm 1969 và đưa các con trở về Đức).

Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1946: Ông nhập ngũ vào Quân đội Pháp. Theo học khóa 1 Nguyễn Văn Thinh Trường Võ bị Liên quân Viễn Đông ở tại Đà Lạt (khai giảng: 15/7/1946, mãn khóa: 2/7/1947), tốt nghiệp với cấp bậc Chuẩn uý. (Trường chỉ khai giảng một khóa duy nhất tại Đà Lạt, khóa 2 dời về Vũng Tàu lấy tên Đỗ Hữu Vị và đổi tên là Trường Sĩ quan Nước Ngọt). Tốt nghiệp với ông sau này lên tướng còn có:

Năm 1947: Ra trường, ông phục vụ trong Chi đội Nhảy dù thuộc Vệ binh Nam phần .

Năm 1948: Ông được thăng cấp Thiếu uý. Qua năm 1949 lên Trung uý, vẫn phục vụ ở đơn vị trên.

Quân đội Quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1950: Sau khi sát nhập sang Quân đội Quốc gia. Tháng 5, ông được thăng cấp Đại uý và được cử đi du học lớp căn bản sĩ quan bộ binh tại trường Võ bị Saint Cyr ở Pháp, mãn khóa tháng 7-1951.

Năm 1951: Cuối năm , ông được lên cấp Thiếu tá, theo học lớp Chỉ huy Chiến thuật tại Trung tâm Huấn luyện Chiến thuật Hà nội.

Năm 1952: Ông được cử đi du học lớp Tham mưu tại Trường Tham mưu Ba Lê, Pháp. Qua năm 1953 mãn khóa về nước. Đầu năm 1954, ông được thăng cấp Trung tá.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1955: Đầu tháng 2, ông được cử giữ chức Chỉ huy trưởng chiến dịch Tự do tiếp thu Cà Mau kiêm quyền Tỉnh trưởng Sóc Trăng kiêm Chỉ huy trưởng Bảo an Phân khu Sóc Trăng. Cùng năm ông được thăng cấp lên Đại tá Chỉ huy trưởng Chiến dịch Đinh Tiên Hoàng bình định miền Tây Nam phần.

Bình định Miền Tây[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 5/6, Ông cho quân tiến chiếm Cái Vồn (Vĩnh Long), phá tan đại bản doanh của Tướng Trần Văn Soái (Năm Lửa). Ngày 29/6, ông tiến vào núi Ba Chúc, tấn công lực lượng của Tướng Lê Quang Vinh (Ba Cụt). Ngày 29/10, bắt được Thiếu tá Võ Hùng Vương, em vợ của tướng Hoà Hảo Năm Lửa.

Do địa bàn quá rông nên chưa dành được thắng lợi ngay. Cố vấn Ngô Đình Nhu sốt ruột và đề nghị Bộ trưởng Nội vụ Nguyễn Ngọc Thơ tìm chỉ huy khác thay thế. Ngày 29.12.1955, ông Diệm đã ra lệnh chấm dứt chiến dịch Đinh Tiên Hoàng do ông chỉ huy và cho Đại tá Dương Văn Minh lên thay.

Ông tỏ vẽ bất bình về chuyện chấm dứt công tác một cách đột ngột này. Do đó, đầu năm 1956 Thủ tướng Ngô Đình Diệm vinh thăng ông lên Thiếu tướng và giữa năm (ngày 10/6) cử ông đi làm Đại Sứ tại Nam Hàn. Tại đây ông quen và cưới vợ người Đức là nhân viên Tòa Đại sứ Cộng hòa Liên bang Đức tại Nam Hàn .

Năm 1958: Cuối năm, sau khi hết nhiệm vụ Đại sứ tại nam Hàn, về nước ông được cử đi du học khóa Chỉ huy & Tham mưu cao cấp ở Mỹ. Mãn khoá về ông được nhận chức Tổng Thư ký Thường trực Quốc Phòng thay tướng Dương Văn Minh.

Năm 1960: Vì có vấn đề cá nhân với Tổng thống Ngô Đình Diệm, nên từ nhiệm chức Tổng thư ký đồng thời cuối năm xin giải ngũ và xin phép sang Đức thăm gia đình và ở luôn tại đây.

Năm 1963: Sau ngày đảo chính 1/11, Hội đồng Quân nhân Cách mạng chấp nhận cho phép ông hồi hương và trung tuần tháng 11, ông được tái phục vụ trong Quân đội với cáp bậc cũ là Thiếu tướng, nhận giữ chức Tham mưu phó Kế hoạch Bộ Tổng tham mưu.

Năm 1964: Ngày 30/1 tham gia cuộc chỉnh lý nội bộ do tướng Nguyễn Khánh cầm đầu, ông được cử giữ chức vụ Tư lệnh Quân đoàn IV thay Thiếu tướng Nguyễn Hữu Có. Giữa năm vinh thăng Trung tướng.

Nhưng chỉ 3 tháng sau (ngày 14/9), do bất mãn chính quyền Nguyễn Khánh ông đã cùng các tướng Lâm Văn Phát, Dương Ngọc Lắm và Đại tá Huỳnh Văn Tồn chủ động cuộc biểu dương lực lượng. Cuộc biểu dương này bất thành, ông và những người liên can phải ra Toà án Mặt trận Quân sự và Hội đồng Kỷ luật quân đội. Kết quả, ông bị buộc giải ngũ vào cuối năm.

Sau đó ông từ bỏ các hoạt động liên quan đến chính trị và mắc bệnh tâm thần.

1975[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1975 chế độ Việt Nam Cộng hòa sụp đổ, ông bị Chính quyền Cách mạng bắt giam 8 năm trong đó 1 năm tù tại miền Nam, 7 năm biệt giam tại các nhà tù miền Bắc.

Ông được ra tù ngày 14-9-1987. Ông mất năm 2000 tại Tp HCM (Sài Gòn), hưởng thọ 75 tuổi.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lược Sử QL VNCH _ Trần Ngọc Thống & Hồ Đắc Huân 2011 .