Danh sách đĩa nhạc của One Direction

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Danh sách đĩa nhạc của One Direction

One Direction biểu diễn trên The X Factor tại Glasgow, Scotland năm 2010.
Các đĩa nhạc
Album phòng thu 3
EP 1
Đĩa đơn 13
Album video 1
Video âm nhạc 11
Bài hát khác 31

Danh sách đĩa nhạc của nhóm nhạc nam Anh-Ireland, One Direction, bao gồm ba album phòng thu,13 đĩa đơn, 1 đĩa mở rộng và 11 video âm nhạc. Họ kí hợp đồng với Simon Cowell của hãng thu âm Syco Records sau khi được hình thành và giành hạng ba trong cuộc thi The X Factor (mùa giải thứ 7).[1] Sau đó, nhóm đã ký hợp đồng với hãng Columbia Records và có hoạt động rộng rãi tại Bắc Mỹ.[2] Đến tháng 8 năm 2012, One Direction đã tiêu thụ được tổng cộng 8 triệu bản đĩa đơn-bao gồm 1,17 triệu bản đĩa đơn được tiêu thụ tại Liên hiệp Anh, 3 triệu bản album và 1 triệu bản DVD toàn thế giới.[3]

Album đầu tay của nhóm, Up All Night, phát hành vào tháng 11 năm 2011. Album đạt vị trí quán quân tại 16 quốc gia và đây cũng là album đầu tiên ra mắt tại vị trí quán quân trên bảng xếp hạng Billboard 200 của Mỹ bởi một nhóm nhạc Anh,[4][5] và kỷ lục này đã được ghi nhận vào Sách kỷ lục Guinness.[6] Đĩa đơn đầu tiên trích từ album, "What Makes You Beautiful", trở thành một hit lớn toàn thế giới, quán quân tại bảng xếp hạng UK Singles Chart của Liên hiệp Anh và đạt vị trí thứ tư trên Billboard Hot 100 của Mỹ. Hai đĩa đơn tiếp theo, "Gotta Be You" và "One Thing" đều lọt vào tốp 10 bảng xếp hạng của Liên hiệp Anh. Album thứ hai, Take Me Home được phát hành tháng 11 năm 2012.[7] Album tiêu thụ 540.000 bản trong tuần đầu tiên tại Mỹ cũng như quán quân bảng xếp hạng của 35 quốc gia.[8][9] Đĩa đơn đầu từ album, "Live While We're Young" là đĩa đơn xếp hạng cao nhất của nhóm tại Mỹ và trở thành bài hát có lượng tiêu thụ trong tuần đầu tiên cao nhất mà không phải bởi một nghệ sĩ người Mỹ.[10] "Little Things" và "Kiss You", hai đĩa đơn tiếp theo, cũng đạt nhiều thành công thương mại.

Album phòng thu thứ ba của nhóm, Midnight Memories, được phát hành vào ngày 25 tháng 11 năm 2013. Hai đĩa đơn đã phát hành từ album là "Best Song Ever" và "Story of My Life". Album tiếp tục trở thành một album thành công của One Direction khi nó có mặt ở vị trí quán quân ngay tuần đầu tiên tại UK Albums Chart và Billboard 200; và điều này đã giúp cho One Direction trở thành nhóm nhạc đầu tiên trong lịch sử có cả ba album đều đạt vị trí cao nhất tại Billboard 200.

Album[sửa | sửa mã nguồn]

Album phòng thu[sửa | sửa mã nguồn]

Tựa đề Chi tiết Vị trí cao nhất trên bảng xếp hạng Doanh số Chứng nhận
L.H. Anh
[11]
Úc
[12]
Bỉ
[13]
Canada
[14]
Pháp
[15]
Ireland
[16]
Hà Lan
[17]
New Zealand
[18]
Thụy Điển
[19]
Mỹ
[20]
Up All Night
  • Phát hành: 18 tháng 11, 2011[21]
  • Hãng đĩa: Syco, Columbia
  • Định dạng: CD, tải kĩ thuật số
2 1 7 1 15 1 7 1 1 1
Take Me Home
  • Phát hành: 9 tháng 11, 2012[7]
  • Hãng đĩa: Syco, Colombia
  • Định dạng: CD, tải kỹ thuật số
1 1 1 1 3 1 1 1 1 1
  • L.H. Anh: 2×  Bạch kim[35]
  • Úc: 2×  Bạch kim[24]
  • Thụy Sĩ:  Bạch kim[36]
  • Canada: 2×  Bạch kim[37]
  • Hà Lan: Vàng Vàng[38]
  • New Zealand: 2×  Bạch kim[39]
  • Mỹ:  Bạch kim[27]
Midnight Memories
  • Phát hành: Ngày 25 tháng 11 năm 2013
  • Hãng đĩa: Syco, Columbia
  • Định dạng: CD, tải kỹ thuật số
1 1 1 1 2 1 2 2 1 1
  • L.H.Anh: 726,000[40]
  • Mỹ: 1,100,000[41]
  • BPI: 2× Bạch kim[35]
  • ARIA: 2× Bạch kim[42]
  • GLF: Vàng[43]
  • IRMA: 3× Bạch kim[44]
  • MC: 2× Bạch kim[45]
  • RIAA: Bạch kim[27]
  • RMNZ: Bạch kim[46]

Đĩa mở rộng[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Chi tiết Vị trí xếp hạng cao nhất
Mỹ
[20]
iTunes Festival: London 2012
  • Phát hành: 20 tháng 9, 2012[47]
  • Hãng đĩa: Syco Records
  • Định dạng: Tải kỹ thuật số
140

Album video[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách các album video, với vị trí xếp hạng chọn lọc, doanh số bán và chứng nhận
Tên Chi tiết Vị trí xếp hạng cao nhất Doanh số Chứng nhận
L.H. Anh
[3]
Úc
[48]
Canada
[49]
Mỹ
[50]
Up All Night: The Live Tour
  • Phát hành: 28 tháng 5, 2012[51]
  • Hãng đĩa: Syco, Columbia
  • Định dạng: DVD
6 1 1 1
  • L.H. Anh: 61.000[3]
  • Thế giới: 1.000.000[3]
  • Úc: 9×  Bạch kim[52]
  • Canada: 6×  Bạch kim[53]
  • Mỹ: 3×  Bạch kim[27]

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách đĩa đơn, với vị trí trên bảng xếp hạng và doanh số
Tựa đề Năm Vị trí cao nhất trên bảng xếp hạng Chứng nhận Album
UK
[54]
AUS
[12]
BEL (FL)
[13]
CAN
[14]
FRA
[15]
IRE
[16]
NL
[17]
NZ
[18]
SWE
[19]
US
[55]
"What Makes You Beautiful" 2011 1 7 8 7 39 1 63 2 29 4
  • BPI: Bạch kim[35]
  • ARIA: 6× Bạch kim[56]
  • BEA: Vàng[57]
  • GLF: 4× Bạch kim[58]
  • MC: 5× Bạch kim[59]
  • RIAA: 4× Bạch kim[27]
  • RMNZ: 2× Bạch kim[60]
Up All Night
"Gotta Be You" 3  —  —  —  — 3  —  —  —  —A
"One Thing" 2012 9 3 37 17 91 6 72 16  — 39
  • BPI: Bạc[35]
  • ARIA: 4× Bạch kim[62]
  • MC: 2× Bạch kim
  • RIAA: Bạch kim[27]
  • RMNZ: Vàng[60]
"More than This" 86 49  —  —  — 39  —  —  —  —
"Live While We're Young" 3 2 7 2 20 1 3 1 23 3
  • BPI: Bạc[35]
  • ARIA: 2× Bạch kim[62]
  • MC: Platinum[63]
  • RIAA: Bạch kim[27]
  • RMNZ: Bạch kim[64]
Take Me Home
"Little Things" 1 9 30 20 58 2  — 2 27 33
"Kiss You" 2013 9 13 33 30 36 7 15 13 55 46
"One Way or Another (Teenage Kicks)" 1 3 12 9 17 1 1 3 38 13 Không album
"Best Song Ever" 2 4 12 2 12 2 5 3 24 2 Midnight Memories
"Story of My Life" 2 3 3 3 22 1 3 1 8 6
  • BPI: Vàng[35]
  • ARIA: Bạch kim[62]
  • MC: 2× Bạch kim[72]
  • RIAA: Bạch kim[27]
  • RMNZ: Bạch kim[73]
"Midnight Memories" [74] 2014 46  — 4 35 14 3 5 3  — 12
"—" bài hát không lọt được vào bảng xếp hạng hoặc không được phát hành tại đó.

Đĩa đơn từ thiện[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Năm Vị trí xếp hạng cao nhất Ghi chú
L.H. Anh
[11]
Ireland
[16]
"Heroes"
(với các nghệ sĩ chung kết The X Factor 2010)
2010 1 1
  • Giúp đỡ cho tổ chức từ thiện Help for Heroes để cứu giúp quân nhân bị thương.[75]
"Wishing on a Star"
(với các nghệ sĩ chung kết The X Factor 2011 và JLS)[76]
2011 1 1
  • Giúp đỡ cho tổ chức từ thiện giúp đỡ trẻ em Together for Short Lives.[77]

Bài hát được xếp hạng khác[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách các bài hát được xếp hạng khác, với vị trí xếp hạng cao nhất
Tên Năm Vị trí xếp hạng Album
UK
[78][79]
AUS
[80]
BEL (FL)
[13]
CAN
[14]
FRA
[15]
GER
[81]
IRE
[16][82][83]
NL
[84]
NZ
[18][73]
US
[55]
SWE
[19]
"Na Na Na" 2011  — 86  —  —  —  — 27  —  —  —  — Up All Night
"Another World" 85 66  —  —  —  —  —  —  —  —  —
"Moments" 118 60  — 87  —  —  —  —  —  —  —
"Stand Up"  — 80  —  —  —  —  —  —  —  —  —
"Up All Night"  —  —  —  —  —  —  —  —  —  —B  —
"I Should Have Kissed You" 2012 55 71  —  —  —  —  —  — 27  —  —
"Nobody Compares" 174  —  — 79  —  —  —  —  —  —C  — Take Me Home
"She's Not Afraid" 171  —  — 89  —  —  —  —  —  —D  —
"Still the One" 197  —  — 97  —  —  —  —  —  —E  —
"Heart Attack"  —  —  — 100  —  —  —  —  —  —F  —
"Rock Me"  —  —  —  —  —  —  —  —  — 98  —
"They Don't Know About Us"  —  —  —  —  —  —  —  —  —  —G  —
"Last First Kiss"  —  —  —  —  —  —  —  —  —  —H  —
"Loved You First"  —  —  —  —  —  —  —  —  —  —I  —
"I Would"  —  —  —  —  —  —  —  —  —  —J  —
"C'mon, C'mon"  —  —  —  —  —  —  —  —  —  —K  —
"Diana" 2013 58  —L 3 23 12  — 2 3 2 11 55 Midnight Memories
"Strong" 48  — 6 44 15 24 22 4 1 87 58
"You & I" 19  — 17 78 42 54 45 32  —  — 21
"Don't Forget Where You Belong" 21  — 28  — 50 66 51 31  —  —  —
"Half a Heart" 108  —  —  —  —  — 82  —  —  —  —
"Alive" 150  —  —  —  —  —  —  —  —  —  —
"Better Than Words" 185  —  —  —  —  —  —  —  —  —  —
"Does He Know?" 130  —  —  —  —  —  —  —  —  —  —
"Happily" 120  —  —  —  —  —  —  —  —  — 35
"Little Black Dress" 177  —  —  —  —  —  —  —  —  —  —
"Little White Lies" 149  —  —  —  —  —  —  —  —  —  —
"Right Now" 173  —  —  —  —  —  —  —  —  —  —
"Through The Dark" 175  —  —  —  —  —  —  —  —  —  —
"Why Don't We Go There" 156  —  —  —  —  —  —  —  —  —  —
"—" Bài hát không có mặt trên bảng xếp hạng hoặc không phát hành ở quốc gia đó.

Video âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách video âm nhạc cùng đạo diễn
Tên Năm Đạo diễn
"Heroes"
(với các nghệ sĩ chung kết The X Factor 2010)
2010 Unknown
"What Makes You Beautiful" 2011 John Urbano[85]
"Gotta Be You"
"Wishing on a Star"
(với các nghệ sĩ chung kết The X Factor 2010 và JLS)
Unknown
"One Thing" 2012 Declan Whitebloom[86]
"Live While We're Young" Vaughan Arnell[87]
"Little Things"
"Kiss You" 2013
"One Way or Another (Teenage Kicks)" One Direction[88]
"Best Song Ever" Ben Winston[89]
"Story of My Life"
"Midnight Memories" 2014

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú
Tham khảo
  1. ^ Victoria Nash (13 tháng 12, 2010). “X Factor's One Direction sign £1m deal”. Express & Star (Liên hiệp Anh: Midland News Association). Truy cập 20 tháng 10, 2012. 
  2. ^ James C. McKinley Jr (23 tháng 3, 2012). “Boy Bands Are Back, Wholesome or Sexy”. The New York Times (Hoa Kỳ: The New York Times Company). Truy cập 3 tháng 10, 2012. 
  3. ^ a ă â b c Dan Lane (2 tháng 8, 2012). “One Direction sell 12 million singles, albums and DVD and Blu-rays worldwide”. Liên hiệp Anh: Official Charts Company. Truy cập 2 tháng 8, 2012. 
  4. ^ a ă “One Direction to hold global Twitter viewing party for new concert DVD”. Music Week (Liên hiệp Anh: Intent Media). 30 tháng 5, 2012. Truy cập 11 tháng 6, 2012. 
  5. ^ Keith Caulfield (20 tháng 3, 2012). “One Direction Makes History With No. 1 Debut on Billboard 200”. Billboard (Hoa Kỳ: Prometheus Global Media). Truy cập 21 tháng 3, 2012. 
  6. ^ Colin Daniels (7 tháng 9, 2012). “Adele, One Direction enter 'Guinness World Records'”. Digital Spy (Liên hiệp Anh: Hearst Magazines UK). Truy cập 8 tháng 9, 2012. 
  7. ^ a ă “Take Me Home”. iTunes Store (bằng tiếng Hà Lan). Hà Lan: Apple Inc. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2012. 
  8. ^ Keith Caufied (20 tháng 11 năm 2012). “One Direction's 'Take Me Home' Debuts at No. 1 With Year's Third-Biggest Opening”. Billboard (Mỹ: Prometheus Global Media). Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2012. 
  9. ^ Tina Hart (29 tháng 11 năm 2012). “Imagem Music signs One Direction hit-writer Fiona Bevan”. Music Week (L.H. Anh: Intent Media). Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2012. 
  10. ^ Tina Hart (21 tháng 10 năm 2012). “One Direction achieve fastest-selling single by a UK act in the US”. Music Week (L.H. Anh: Intent Media). Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2012. 
  11. ^ a ă “UK Charts > One Direction”. Official Charts Company. 
  12. ^ a ă “One Direction”. Australian-charts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2012. 
  13. ^ a ă â “One Direction - Belgium (Flanders) Charts”. www.ultratop.be/nl/ Hung Medien. 
  14. ^ a ă â “Canadian Hot 100”. Billboard.com. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2012. 
  15. ^ a ă â “Disque en France”. lescharts.com/ Hung Medien. 
  16. ^ a ă â b “One Direction - Irish Charts”. irish-charts.com/ Hung Medien. 
  17. ^ a ă “Dutch Album Charts > One Direction” (bằng tiếng Hà Lan). dutchcharts.nl Hung Medien. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2012. 
  18. ^ a ă â “One Direction - New Zealand Charts”. charts.org.nz/ Hung Medien. 
  19. ^ a ă â “Discography - One Direction”. Sverigetopplistan. 
  20. ^ a ă “Building Album Sales Chart”. HITS Daily Double. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2012. 
  21. ^ “iTunes - Music - Up All Night (Yearbook Edition) by One Direction”. iTunes Store. Ireland: Apple Inc. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2012. 
  22. ^ Dan Lane (8 tháng 12 năm 2012). “The Top 10 biggest selling X Factor debut singles and albums revealed!”. L.H. Anh: Official Charts Company. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2012. 
  23. ^ Brian Mansfield (28 tháng 11 năm 2012). “Phillip Phillips' album debuts at No. 4”. USA Today (Mỹ: Gannett Company). Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2012. 
  24. ^ a ă “ARIA Charts – Accreditations – 2012 Albums”. Australia: Australian Recording Industry Association (ARIA). 15 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2012. 
  25. ^ “Veckolista Album - Vecka 36, 7 september 2012 [Weekly List Album - Week 36, 7 September 2012]”. Sverigetopplistan (bằng tiếng Thụy Điển). Thụy Điển: Swedish Recording Industry Association (GLF). 7 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2012. 
  26. ^ “Canada album certifications – One Direction – Up All Night”. Music Canada. 11 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2012. 
  27. ^ a ă â b c d đ e ê g h i “Gold and Platinum > Searchable Database > One Direction”. Mỹ: Recording Industry Association of America (RIAA). Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2012. 
  28. ^ “NZ Top 40 Albums Chart”. Nztop40.co.nz. New Zealand: Recording Industry Association of New Zealand (RIANZ). 1 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2012. 
  29. ^ “Anneee 2012 - Certifications au 20/11/2012 [Year 2012 - Certifications 20/11/2012]” (PDF) (bằng tiếng Pháp). Pháp: Syndicat National de l'Édition Phonographique (SNEP). 20 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2012. 
  30. ^ Dan Lane (18 tháng 11 năm 2012). “One Direction score Number 1 single AND album!”. L.H. Anh: Official Charts Company. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2012. 
  31. ^ Dan Lane (2 tháng 1 năm 2013). "The Official Top 40 Biggest Selling Albums Of 2012 Revealed!". L.H. Anh: Official Charts Company. Truy cập 28 tháng 2 năm 2013.
  32. ^ Paul Grein (5 tháng 12 năm 2012). “Week Ending Dec. 2, 2012. Albums: Good Week Or Bad For Keys?”. Yahoo! Music (Mỹ: Yahoo!). Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2012. 
  33. ^ Keith Caulfield (3 tháng 1 năm 2013). "Adele's '21' 2012's Best Selling Album; Gotye Has Top Song". Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập 28 tháng 2 năm 2013.
  34. ^ (26 tháng 2 năm 2013). "IFPI publishes Digital Music Report 2013". L.H. Anh: Liên đoàn Công nghiệp ghi âm quốc tế. Truy cập 28 tháng 2 năm 2013.
  35. ^ a ă â b c d đ e ê g “UK Album and Singles Sales – Accreditations – 2012/2013 Albums”. L.H. Anh: British Phonographic Industry (BPI). 
  36. ^ “Veckolista Album - Vecka 46, 16 november 2012 [Weekly List Album - Week 46, 16 November 2012]”. Sverigetopplistan (bằng tiếng Thụy Điển). Thụy Điển: Swedish Recording Industry Association. 16 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2012. 
  37. ^ “Canada album certifications – One Direction – Take Me Home”. Music Canada. 27 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2012. 
  38. ^ “Gouden plaat voor One Direction [Golden plate for One Direction]”. NU.nl (bằng tiếng Hà Lan) (Hà Lan: Sanoma Media). 9 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2012. 
  39. ^ “NZ Top 40 Albums Chart”. Nztop40.co.nz. New Zealand: Recording Industry Association of New Zealand. 19 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2012. 
  40. ^ “One Direction: behind the scenes of their new video!”. Official Charts Company. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2014. 
  41. ^ Caulfield, Keith. “Beyonce Leads for Third Week at No. 1 on Billboard 200 Chart”. Billboard. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2014. ‘One Direction's "Midnight Memories" climbs one spot to No. 2, selling 142,000’ 
  42. ^ “ARIA Charts - Accreditations - 2013 Albums”. Australian Recording Industry Association. Tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2013. 
  43. ^ “Sverigetopplistan - Sveriges Officiella Topplista”. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 1 năm 2014. 
  44. ^ “2013 Certification Awards — Multi platinum”. Irish Recorded Music Association (IRMA). Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2014. 
  45. ^ http://musiccanada.com/GPSearchResult.aspx?st=&ica=False&sa=One%20Direction&sl=&smt=0&sat=-1&ssb=Artist
  46. ^ “NZ Top 40 Albums Chart | The Official New Zealand Music Chart”. Nztop40.co.nz. 2 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2014. 
  47. ^ “iTunes Festival: London 2012 - EP”. iTunes Store (bằng tiếng Hà Lan). Hà Lan: Apple Inc. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2012. 
  48. ^ “One Direction's live DVD reaches 6x platinum after one week”. Nova FM (Australia: DMG Radio Australia). Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2012. 
  49. ^ Rhian Jones (8 tháng 6 năm 2012). “One Direction live DVD hits No.1 in 25 countries”. Music Week (L.H. Anh: Intent Media). Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2012. 
  50. ^ Keith Caufield (6 tháng 6 năm 2012). “One Direction's 'Up All Night: The Live Tour' Debuts at No. 1”. Billboard (Mỹ: Prometheus Global Media). Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2012. 
  51. ^ Lewis Corner (12 tháng 4 năm 2012). “One Direction perform 'Moments' on tour – video”. Digital Spy (L.H. Anh: Hearst Magazines UK). Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2012. 
  52. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2012 DVDs”. Australia: Australian Recording Industry Association (ARIA). Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2012. 
  53. ^ “Canada video certifications – One Direction – Up All Night - The Live Tour”. Music Canada. 11 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2012. 
  54. ^ Peak positions for singles in the United Kingdom:
  55. ^ a ă Peak chart positions for singles and other charted songs in the US:
  56. ^ a ă “ARIA Charts – Accreditations – 2012 Singles”. Australia: Australian Recording Industry Association (ARIA). Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2012. 
  57. ^ a ă ultratop.be - ULTRATOP BELGIAN CHARTS
  58. ^ “Veckolista Singlar – Vecka 3, 20 januari 2012 [Weekly List Album – Week 3, 20 January 2012]”. Sverigetopplistan (bằng Swedish). Sweden: Swedish Recording Industry Association (GLF). 20 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2012. 
  59. ^ “Canada digital download certifications – One Direction – What Makes You Beautiful”. Music Canada. 27 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2012. 
  60. ^ a ă “NZ Top 40 Singles”. Nztop40.co.nz. New Zealand: Recording Industry Association of New Zealand (RIANZ). 7 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2012. 
  61. ^ ARIA Charts - Accreditations, ARIA
  62. ^ a ă â b c d “ARIA Charts – Accreditations – 2013 Singles”. Australia: Australian Recording Industry Association (ARIA). Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2013. 
  63. ^ “Canada digital certifications – One Direction – Live While We're Young”. Music Canada. 
  64. ^ “NZ Top 40 Singles”. Nztop40.co.nz. New Zealand: Recording Industry Association of New Zealand (RIANZ). 5 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2012. 
  65. ^ “Canada digital certifications – One Direction – Little Things”. Music Canada. 
  66. ^ “NZ Top 40 Singles”. New Zealand: Recording Industry Association of New Zealand (RIANZ). 31 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2013. 
  67. ^ “Canada digital certifications – One Direction – Kiss You”. Music Canada. 
  68. ^ “NZ Top 40 Singles Chart”. New Zealand: Recording Industry Association of New Zealand (RIANZ). 11 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2013. 
  69. ^ “NZ Top 40 Singles Chart”. New Zealand: Recording Industry Association of New Zealand (RIANZ). 18 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2013. 
  70. ^ ARIA Australian Top 50 Singles Chart| Australia's Official Top 50 Songs - ARIA Charts
  71. ^ “NZ Top 40 Singles Chart”. New Zealand: Recording Industry Association of New Zealand (RIANZ). 21 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2013. 
  72. ^ “Canada digital certifications – One Direction – Story of My Life”. Music Canada. 
  73. ^ a ă “NZ Top 40 Singles Chart | The Official New Zealand Music Chart”. Nztop40.co.nz. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2014. 
  74. ^ http://oceanup.com/2014/01/24/liam-payne-i-wrote-midnight-memories/
  75. ^ “X Factor: finalists cover David Bowie for charity”. Newsbeat (L.H. Anh: BBC). 15 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2010. 
  76. ^ One Direction and JLS join X Factor Charity Single DigitalSpy, Truy cập 2011-11-05.
  77. ^ Colin Daniels (5 tháng 11 năm 2010). “One Direction and JLS join X Factor Charity Single”. Digital Spy (L.H. Anh: Hearst Magazines UK). Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2012. 
  78. ^ http://www.zobbel.de/cluk/131207cluk.txt
  79. ^ Peak positions for other charted songs in the UK:
  80. ^ Peak positions for other charted songs in Australia:
  81. ^ “charts.de”. charts.de. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2014. 
  82. ^ GFK Chart-Track
  83. ^ GFK Chart-Track
  84. ^ Steffen Hung. “Discografie One Direction”. dutchcharts.nl. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2014. 
  85. ^
  86. ^ “One Direction One Thing (Behind the Scenes)”. YouTube. United States: Google, Inc. 26 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2012. 
  87. ^ * For "Live While We're Young": Jason Lipshutz (20 tháng 9 năm 2012). “One Direction Releases 'Live While We're Young' Single, Video: Watch”. Billboard (United States: Prometheus Global Media). Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2012. 
  88. ^ Julia Carey and Ali Bauersfeld. “Watch 1D's "One Way Or Another" video”. Seventeen. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2013. “The boys saved money by making this video themselves” 
  89. ^
  90. ^ a ă â b c d đ e ê g h "One Direction - Chart History - Bubbling Under Hot 100 Singles". Billboard. Truy cập 28 tháng 2 năm 2013.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]