Danh sách đĩa nhạc của One Direction

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Danh sách đĩa nhạc của One Direction

One Direction biểu diễn trên The X Factor tại Glasgow, Scotland năm 2010.
Các đĩa nhạc
Album phòng thu 2
EP 1
Đĩa đơn 9
Album video 1
Video âm nhạc 9

Danh sách đĩa nhạc của nhóm nhạc nam Anh-Ireland, One Direction, bao gồm hai album phòng thu, 9 đĩa đơn, 1 đĩa mở rộng và 9 video âm nhạc. Họ kí hợp đồng với Simon Cowell của hãng thu âm Syco Records sau khi được hình thành và giành hạng ba trong cuộc thi The X Factor (mùa giải thứ 7).[1] Sau đó, nhóm đã ký hợp đồng với hãng Columbia Records và có hoạt động rộng rãi tại Bắc Mỹ.[2] Đến tháng 8 năm 2012, One Direction đã tiêu thụ được tổng cộng 8 triệu bản đĩa đơn-bao gồm 1,17 triệu bản đĩa đơn được tiêu thụ tại Liên hiệp Anh, 3 triệu bản album và 1 triệu bản DVD toàn thế giới.[3]

Album đầu tay của nhóm, Up All Night, phát hành vào tháng 11 năm 2011. Album đạt vị trí quán quân tại 16 quốc gia và đây cũng là album đầu tiên ra mắt tại vị trí quán quân trên bảng xếp hạng Billboard 200 của Mỹ bởi một nhóm nhạc Anh,[4][5] và kỷ lục này đã được ghi nhận vào Sách kỷ lục Guinness.[6] Đĩa đơn đầu tiên trích từ album, "What Makes You Beautiful", trở thành một hit lớn toàn thế giới, quán quân tại bảng xếp hạng UK Singles Chart của Liên hiệp Anh và đạt vị trí thứ tư trên Billboard Hot 100 của Mỹ. Hai đĩa đơn tiếp theo, "Gotta Be You" và "One Thing" đều lọt vào tốp 10 bảng xếp hạng của Liên hiệp Anh. Album thứ hai, Take Me Home được phát hành tháng 11 năm 2012.[7] Album tiêu thụ 540.000 bản trong tuần đầu tiên tại Mỹ cũng như quán quân bảng xếp hạng của 35 quốc gia.[8][9] Đĩa đơn đầu từ album, "Live While We're Young" là đĩa đơn xếp hạng cao nhất của nhóm tại Mỹ và trở thành bài hát có lượng tiêu thụ trong tuần đầu tiên cao nhất mà không phải bởi một nghệ sĩ người Mỹ.[10]

Mục lục

Album[sửa]

Album phòng thu[sửa]

Tựa đề Chi tiết Vị trí cao nhất trên bảng xếp hạng Doanh số Chứng nhận
L.H. Anh
[11]
Úc
[12]
Bỉ
[13]
Canada
[14]
Pháp
[15]
Ireland
[16]
Hà Lan
[17]
New Zealand
[18]
Thụy Điển
[19]
Mỹ
[20]
Up All Night
  • Phát hành: 18 tháng 11, 2011[21]
  • Hãng đĩa: Syco, Columbia
  • Định dạng: CD, tải kĩ thuật số
2 1 7 1 15 1 7 1 1 1
Take Me Home
  • Phát hành: 9 tháng 11, 2012[7]
  • Hãng đĩa: Syco, Colombia
  • Định dạng: CD, tải kỹ thuật số
1 1 1 1 3 1 1 1 1 1
  • L.H. Anh: 2×  Bạch kim[35]
  • Úc: 2×  Bạch kim[24]
  • Thụy Sĩ:  Bạch kim[36]
  • Canada: 2×  Bạch kim[37]
  • Hà Lan: Vàng Vàng[38]
  • New Zealand: 2×  Bạch kim[39]
  • Mỹ:  Bạch kim[27]

Đĩa mở rộng[sửa]

Tên Chi tiết Vị trí xếp hạng cao nhất
Mỹ
[20]
iTunes Festival: London 2012
  • Phát hành: 20 tháng 9, 2012[40]
  • Hãng đĩa: Syco Records
  • Định dạng: Tải kỹ thuật số
140

Album video[sửa]

Danh sách các album video, với vị trí xếp hạng chọn lọc, doanh số bán và chứng nhận
Tên Chi tiết Vị trí xếp hạng cao nhất Doanh số Chứng nhận
L.H. Anh
[3]
Úc
[41]
Canada
[42]
Mỹ
[43]
Up All Night: The Live Tour
  • Phát hành: 28 tháng 5, 2012[44]
  • Hãng đĩa: Syco, Columbia
  • Định dạng: DVD
6 1 1 1
  • L.H. Anh: 61.000[3]
  • Thế giới: 1.000.000[3]
  • Úc: 9×  Bạch kim[45]
  • Canada: 6×  Bạch kim[46]
  • Mỹ: 3×  Bạch kim[27]

Đĩa đơn[sửa]

Đĩa đơn[sửa]

Danh sách đĩa đơn, với vị trí trên bảng xếp hạng và doanh số
Tựa đề Năm Vị trí cao nhất trên bảng xếp hạng Chứng nhận Album
L.H. Anh
[11]
Úc
[12]
Bỉ
[13]
Canada
[14]
Pháp
[15]
Ireland
[16]
Hà Lan
[17]
New Zealand
[18]
Thụy Điển
[19]
Mỹ
[47]
"What Makes You Beautiful" 2011 1 7 8 7 39 1 63 2 29 4
  • L.H. Anh:  Bạch kim[35]
  • Úc: 6×  Bạch kim[48]
  • Canada: 4×  Bạch kim[49]
  • New Zealand: 2×  Bạch kim[50]
  • Thụy Điển: 4×  Bạch kim[51]
  • Mỹ: 3×  Bạch kim[27]
Up All Night
"Gotta Be You"A 3 3 124
"One Thing" 2012 9 3 37 17 91 6 72 16 39
  • Úc: 4×  Bạch kim[48]
  • Canada:  Bạch kim[52]
  • New Zealand: Vàng Vàng[50]
  • Mỹ:  Bạch kim[27]
"More than This" 86 49 39
"Live While We're Young" 3 2 7 2 20 1 3 1 23 3
  • Mỹ:  Bạch kim[27]
  • Úc: 2×  Bạch kim[48]
  • New Zealand: Vàng Vàng[53]
Take Me Home
"Little Things" 1 9 30 20 58 2 2 27 33
  • Úc: 3×  Bạch kim[54]
  • Mỹ: Vàng Vàng[27]
  • New Zealand: Vàng Vàng[55]
"Kiss You" 2013 9 13 33 30 36 7 30 17 55 51
  • New Zealand: Vàng Vàng[56]
  • Úc: Vàng Vàng[54]
"One Way or Another (Teenage Kicks)" 1 3 20 9 17 1 1 3 45 không có
"—" Đĩa đơn không xếp hạng hoặc không phát hành tại quốc gia đó.

Đĩa đơn từ thiện[sửa]

Tên Năm Vị trí xếp hạng cao nhất Ghi chú
L.H. Anh
[11]
Ireland
[16]
"Heroes"
(với các nghệ sĩ chung kết The X Factor 2010)
2010 1 1
  • Giúp đỡ cho tổ chức từ thiện Help for Heroes để cứu giúp quân nhân bị thương.[57]
"Wishing on a Star"
(với các nghệ sĩ chung kết The X Factor 2011 và JLS)[58]
2011 1 1
  • Giúp đỡ cho tổ chức từ thiện giúp đỡ trẻ em Together for Short Lives.[59]

Bài hát được xếp hạng khác[sửa]

Tên Năm Vị trí xếp hạng cao nhất Album
L.H. Anh
[60]
Úc
[61]
Canada
[14]
Ireland
[16]
New Zealand
[18]
Mỹ
[47]
"Na Na Na" 2011 86 27 Up All Night
"Another World" 85 66
"Moments"B 118 60 87
"Stand Up" 80
"Up All Night" 113
"I Should Have Kissed You" 2012 55 71 27
"Nobody Compares"C 174 79 108 Take Me Home
"She's Not Afraid"D 171 89 103
"Still the One"E 197 97 115
"Heart Attack"F 100 104
"Rock Me" 98
"They Don't Know About Us"G 114
"Last First Kiss"H 119
"Loved You First"I 121
"I Would"J 123
"C'mon, C'mon"K 125
"—" Bài hát không có mặt trên bảng xếp hạng hoặc không phát hành ở quốc gia đó.

Video âm nhạc[sửa]

Tựa đề Năm Đạo diễn Nguồn
"What Makes You Beautiful" 2011 John Urbano [62]
"Gotta Be You" [63]
"One Thing" 2012 Declan Whitebloom [64]
"More Than This" Andy Saunders [65]
"Live While We're Young" Vaughan Arnell [66]
"Little Things" [67]
"Kiss You" 2013 [68]

Chú thích[sửa]

Ghi chú
  • A ^ "Gotta Be You" không lọt vào bảng xếp hạng chính thức của Mỹ, Billboard Hot 100 mà đạt vị trí thứ 24 trên Bubbling Under Hot 100 Singles, một bảng xếp hạng 25 ca khúc dưới Hot 100.[69]
  • B ^ "Up All Night" không lọt vào Billboard Hot 100 mà đạt vị trí thứ 13 trên Bubbling Under Hot 100 Singles.[69]
  • C ^ "Nobody Compares" không lọt vào Billboard Hot 100 mà đạt vị trí thứ 8 trên Bubbling Under Hot 100 Singles.[69]
  • D ^ "She's Not Afraid" không lọt vào Billboard Hot 100 mà đạt vị trí thứ 3 trên Bubbling Under Hot 100 Singles.[69]
  • E ^ "Still the One" không lọt vào Billboard Hot 100 mà đạt vị trí thứ 15 trên Bubbling Under Hot 100 Singles.[69]
  • F ^ "Heart Attack" không lọt vào Billboard Hot 100 mà đạt vị trí thứ 4 trên Bubbling Under Hot 100 Singles.[69]
  • G ^ "They Don't Know About Us" không lọt vào Billboard Hot 100 mà đạt vị trí thứ 14 trên Bubbling Under Hot 100 Singles.[69]
  • H ^ "Last First Kiss" không lọt vào Billboard Hot 100 mà đạt vị trí thứ 19 trên Bubbling Under Hot 100 Singles.[69]
  • I ^ "Love You First" không lọt vào Billboard Hot 100 mà đạt vị trí thứ 21 trên Bubbling Under Hot 100 Singles.[69]
  • J ^ "I Would" không lọt vào Billboard Hot 100 mà đạt vị trí thứ 23 trên Bubbling Under Hot 100 Singles.[69]
  • K ^ "C'mon, C'mon" không lọt vào Billboard Hot 100 mà đạt vị trí thứ 25 trên Bubbling Under Hot 100 Singles.[69]
Tham khảo
  1. ^ Victoria Nash (13 tháng 12, 2010). “X Factor's One Direction sign £1m deal”. Express & Star (Liên hiệp Anh: Midland News Association). Truy cập 20 tháng 10, 2012. 
  2. ^ James C. McKinley Jr (23 tháng 3, 2012). “Boy Bands Are Back, Wholesome or Sexy”. The New York Times (Hoa Kỳ: The New York Times Company). Truy cập 3 tháng 10, 2012. 
  3. ^ a b c d e Dan Lane (2 tháng 8, 2012). “One Direction sell 12 million singles, albums and DVD and Blu-rays worldwide”. Liên hiệp Anh: Official Charts Company. Truy cập 2 tháng 8, 2012. 
  4. ^ a b “One Direction to hold global Twitter viewing party for new concert DVD”. Music Week (Liên hiệp Anh: Intent Media). 30 tháng 5, 2012. Truy cập 11 tháng 6, 2012. 
  5. ^ Keith Caulfield (20 tháng 3, 2012). “One Direction Makes History With No. 1 Debut on Billboard 200”. Billboard (Hoa Kỳ: Prometheus Global Media). Truy cập 21 tháng 3, 2012. 
  6. ^ Colin Daniels (7 tháng 9, 2012). “Adele, One Direction enter 'Guinness World Records'”. Digital Spy (Liên hiệp Anh: Hearst Magazines UK). Truy cập 8 tháng 9, 2012. 
  7. ^ a b “Take Me Home”. iTunes Store (bằng tiếng Hà Lan). Hà Lan: Apple Inc. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2012. 
  8. ^ Keith Caufied (20 tháng 11 năm 2012). “One Direction's 'Take Me Home' Debuts at No. 1 With Year's Third-Biggest Opening”. Billboard (Mỹ: Prometheus Global Media). Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2012. 
  9. ^ Tina Hart (29 tháng 11 năm 2012). “Imagem Music signs One Direction hit-writer Fiona Bevan”. Music Week (L.H. Anh: Intent Media). Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2012. 
  10. ^ Tina Hart (21 tháng 10 năm 2012). “One Direction achieve fastest-selling single by a UK act in the US”. Music Week (L.H. Anh: Intent Media). Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2012. 
  11. ^ a b c “UK Charts > One Direction”. Official Charts Company. 
  12. ^ a b “One Direction”. Australian-charts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2012. 
  13. ^ a b “One Direction - Belgium (Flanders) Charts”. www.ultratop.be/nl/ Hung Medien. 
  14. ^ a b c “Canadian Hot 100”. Billboard.com. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2012. 
  15. ^ a b “Disque en France”. lescharts.com/ Hung Medien. 
  16. ^ a b c d “One Direction - Irish Charts”. irish-charts.com/ Hung Medien. 
  17. ^ a b “Dutch Album Charts > One Direction” (bằng Dutch). dutchcharts.nl Hung Medien. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2012. 
  18. ^ a b c “One Direction - New Zealand Charts”. charts.org.nz/ Hung Medien. 
  19. ^ a b “Discography - One Direction”. Sverigetopplistan. 
  20. ^ a b “Building Album Sales Chart”. HITS Daily Double. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2012. 
  21. ^ “iTunes - Music - Up All Night (Yearbook Edition) by One Direction”. iTunes Store. Ireland: Apple Inc. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2012. 
  22. ^ Dan Lane (8 tháng 12 năm 2012). “The Top 10 biggest selling X Factor debut singles and albums revealed!”. L.H. Anh: Official Charts Company. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2012. 
  23. ^ Brian Mansfield (28 tháng 11 năm 2012). “Phillip Phillips' album debuts at No. 4”. USA Today (Mỹ: Gannett Company). Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2012. 
  24. ^ a b “ARIA Charts – Accreditations – 2012 Albums”. Australia: Australian Recording Industry Association (ARIA). 15 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2012. 
  25. ^ “Veckolista Album - Vecka 36, 7 september 2012 [Weekly List Album - Week 36, 7 September 2012]”. Sverigetopplistan (bằng tiếng Thụy Điển). Thụy Điển: Swedish Recording Industry Association (GLF). 7 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2012. 
  26. ^ “Canada album certifications – One Direction – Up All Night”. Music Canada. 11 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2012. 
  27. ^ a b c d e f g “Gold and Platinum > Searchable Database > One Direction”. Mỹ: Recording Industry Association of America (RIAA). Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2012. 
  28. ^ “NZ Top 40 Albums Chart”. Nztop40.co.nz. New Zealand: Recording Industry Association of New Zealand (RIANZ). 1 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2012. 
  29. ^ “Anneee 2012 - Certifications au 20/11/2012 [Year 2012 - Certifications 20/11/2012]” (PDF) (bằng tiếng Pháp). Pháp: Syndicat National de l'Édition Phonographique (SNEP). 20 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2012. 
  30. ^ Dan Lane (18 tháng 11 năm 2012). “One Direction score Number 1 single AND album!”. L.H. Anh: Official Charts Company. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2012. 
  31. ^ Dan Lane (2 tháng 1 năm 2013). "The Official Top 40 Biggest Selling Albums Of 2012 Revealed!". L.H. Anh: Official Charts Company. Truy cập 28 tháng 2 năm 2013.
  32. ^ Paul Grein (5 tháng 12 năm 2012). “Week Ending Dec. 2, 2012. Albums: Good Week Or Bad For Keys?”. Yahoo! Music (Mỹ: Yahoo!). Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2012. 
  33. ^ Keith Caulfield (3 tháng 1 năm 2013). "Adele's '21' 2012's Best Selling Album; Gotye Has Top Song". Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập 28 tháng 2 năm 2013.
  34. ^ (26 tháng 2 năm 2013). "IFPI publishes Digital Music Report 2013". L.H. Anh: Liên đoàn Công nghiệp ghi âm quốc tế. Truy cập 28 tháng 2 năm 2013.
  35. ^ a b “UK Album and Singles Sales – Accreditations – 2012/2013 Albums”. L.H. Anh: British Phonographic Industry (BPI). 
  36. ^ “Veckolista Album - Vecka 46, 16 november 2012 [Weekly List Album - Week 46, 16 November 2012]”. Sverigetopplistan (bằng tiếng Thụy Điển). Thụy Điển: Swedish Recording Industry Association. 16 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2012. 
  37. ^ “Canada album certifications – One Direction – Take Me Home”. Music Canada. 27 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2012. 
  38. ^ “Gouden plaat voor One Direction [Golden plate for One Direction]”. NU.nl (bằng tiếng Hà Lan) (Hà Lan: Sanoma Media). 9 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2012. 
  39. ^ “NZ Top 40 Albums Chart”. Nztop40.co.nz. New Zealand: Recording Industry Association of New Zealand. 19 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2012. 
  40. ^ “iTunes Festival: London 2012 - EP”. iTunes Store (bằng tiếng Hà Lan). Hà Lan: Apple Inc. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2012. 
  41. ^ “One Direction's live DVD reaches 6x platinum after one week”. Nova FM (Australia: DMG Radio Australia). Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2012. 
  42. ^ Rhian Jones (8 tháng 6 năm 2012). “One Direction live DVD hits No.1 in 25 countries”. Music Week (L.H. Anh: Intent Media). Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2012. 
  43. ^ Keith Caufield (6 tháng 6 năm 2012). “One Direction's 'Up All Night: The Live Tour' Debuts at No. 1”. Billboard (Mỹ: Prometheus Global Media). Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2012. 
  44. ^ Lewis Corner (12 tháng 4 năm 2012). “One Direction perform 'Moments' on tour – video”. Digital Spy (L.H. Anh: Hearst Magazines UK). Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2012. 
  45. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2012 DVDs”. Australia: Australian Recording Industry Association (ARIA). Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2012. 
  46. ^ “Canada video certifications – One Direction – Up All Night - The Live Tour”. Music Canada. 11 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2012. 
  47. ^ a b “One Direction - What Makes You Beautiful - Music Charts”. Acharts.us. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2012. 
  48. ^ a b c d “ARIA Charts – Accreditations – 2012 Singles”. Australia: Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2012. 
  49. ^ “Canada digital download certifications – One Direction – What Makes You Beautiful”. Music Canada. 27 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2012. 
  50. ^ a b “NZ Top 40 Singles”. Nztop40.co.nz. New Zealand: Recording Industry Association of New Zealand. 7 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2012. 
  51. ^ “Veckolista Singlar - Vecka 3, 20 januari 2012”. Sverigetopplistan (bằng tiếng Thụy Điển). Thụy Điển: Swedish Recording Industry Association. 20 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2012. 
  52. ^ “Canada digital certifications – One Direction – One Thing”. Music Canada. 10 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2012. 
  53. ^ “NZ Top 40 Singles”. Nztop40.co.nz. New Zealand: Recording Industry Association of New Zealand. 15 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2012. 
  54. ^ a b "ARIA Charts - Accreditations - Singles 2013". Úc: ARIA Charts. Truy cập 28 tháng 2 năm 2013.
  55. ^ “NZ Top 40 Singles Chart”. New Zealand: Recording Industry Association of New Zealand. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2013. 
  56. ^ “NZ Top 40 Singles Chart”. New Zealand: Recording Industry Association of New Zealand (RIANZ). Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2013. 
  57. ^ “X Factor: finalists cover David Bowie for charity”. Newsbeat (L.H. Anh: BBC). 15 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2010. 
  58. ^ One Direction and JLS join X Factor Charity Single DigitalSpy, Truy cập 2011-11-05.
  59. ^ Colin Daniels (5 tháng 11 năm 2010). “One Direction and JLS join X Factor Charity Single”. Digital Spy (L.H. Anh: Hearst Magazines UK). Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2012. 
  60. ^ Vị trí xếp hạng cao nhất cho các bài hát khác tại L.H. Anh:
  61. ^ Vị trí xếp hạng cao nhất cho các bài hát khác tại Úc:
  62. ^ Corner, Lewis (19 tháng 8 năm 2011). “One Direction unveil 'What Makes You Beautiful' video”. Digital Spy. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2012. 
  63. ^ “John Urbano”. John Urbano. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2012. 
  64. ^ “One Direction One Thing (Behind the Scenes)”. YouTube. United States: Google, Inc. 26 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2012. 
  65. ^ (2012) Ghi chú phát hành for Up All Night: The Live Tour do One Direction (liner notes). Syco Records.
  66. ^ Jason Lipshutz (20 tháng 9 năm 2012). “One Direction Releases 'Live While We're Young' Single, Video: Watch”. Billboard (Mỹ: Prometheus Global Media). Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2012. 
  67. ^ Jocelyn Vena (2 tháng 11 năm 2012). “One Direction Capture Studio Sesh in 'Little Things': Watch The Video!”. MTV News. United States: MTV Networks. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2012. 
  68. ^ Christina Garibaldi (17 tháng 11 năm 2012). “One Direction Find The Force In 'Kiss You' Video”. MTV News (Mỹ: MTV Networks). Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2012. 
  69. ^ a b c d e f g h i j k "One Direction - Chart History - Bubbling Under Hot 100 Singles". Billboard. Truy cập 28 tháng 2 năm 2013.

Liên kết ngoài[sửa]