Danh sách đĩa nhạc của Taylor Swift

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Danh sách đĩa nhạc của Taylor Swift

Taylor Swift biểu diễn tại Paris đầu năm 2012, trong chuyễn lưu diễn Speak Now World Tour
Các đĩa nhạc
Album phòng thu 4
Album trực tiếp 3
EP 2
Đĩa đơn 20
Album video 2
Video âm nhạc 23
Đĩa đơn quảng bá 8

Danh sách đĩa nhạc của nữ ca sĩ dòng nhạc đồng quê Mỹ bao gồm 4 album phòng thu, 3 album trực tiếp, 2 đĩa mở rộng, 22 đĩa đơn, 8 đĩa đơn quảng bá và 21 video âm nhạc. Năm 2005, Swift kí hợp đồng với Hãng thu âm Big Machine và phát hành album phòng thu đầu tay của cô mang tên Taylor Swift vào năm 2006. Tại Mỹ, album đạt vị trí thứ năm trên bảng xếp hạng Billboard 200[1] và đạt vị trí quán quân bảng xếp hạng Top Country Albums,[2] đồng thời được cấp chứng nhận 5 lần bạch kim (tương ứng với doanh số bán trên 5 triệu bản) bởi Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ (Recording Industry Associaton of America - RIAA)[3]. Album Taylor Swift là album có mặt trên bảng xếp hạng Billboard 200 lâu nhất trong thập niên 2000.[4] Album cho phát hành năm đĩa đơn và tất cả các đĩa đơn đều nằm trong tốp 40 của bảng xếp hạng Billboard Hot 100[5] và đều được chứng nhận bạch kim.[3] Sau đó, Swift tiếp tục phát hành hai đĩa mở rộng là Sounds of the Season: The Taylor Swift Holiday Collection (2007) và Beautiful Eyes (2008), đạt vị trí lần lượt là 20 và 9 trên bảng xếp hạng Billboard 200.

Swift phát hành tiếp album phòng thu thứ hai của mình, Fearless vào năm 2008. Album đứng vị trí quán quân trên bảng xếp hạng Billboard 200 với 11 tuần không liên tiếp,[6] trở thành album bán chạy nhất Hoa Kỳ năm 2009[7] và đạt được chứng nhận 6 lần bạch kim ở Mỹ.[3] Tất cả 13 bài hát trong album đều lọt vào bảng xếp hạng Hot 100, phá kỷ lục về số bài hát lọt vào tốp 40 bảng xếp hạng này trong 1 album.[8] Fearless phát hành năm đĩa đơn. Đĩa đơn đầu tiên từ album, "Love Story" là đĩa đơn thành công nhất của cô trên thị trường âm nhạc toàn cầu, đạt vị trí quán quân ARIA Singles Chart (Úc)[9] và đạt chứng nhận 3 lần bạch kim từ Hiệp hội Ghi âm Úc.[10] Còn đĩa đơn thứ ba "You Belong with Me" thì trở thành đĩa đơn thành công nhất của cô tại Mỹ, đứng thứ hai trên bảng xếp hạng Hot 100[5] và được chứng nhận 4 lần bạch kim bởi Hiệp hội Ghi âm Mỹ.[3] Còn đĩa đơn cuối cùng trích từ album, "Fearless" (2010) trở thành đĩa đơn tải kỹ thuật số đầu tiên được chứng nhận vàng bởi Hiệp hội Ghi âm Mỹ do số lượng tải về khá nhiều.[11] Swift đạt được Giải Âm nhạc Billboard ở hạng mục "Nghệ sĩ của năm" vào 2009 vì những thành tích đạt được của cô trên bảng xếp hạng Hot 100.[12] Vào năm 2010, Swift có một cú nhảy ngoạn mục khi đĩa đơn "Today Was a Fairytale" đạt ngay vị trí á quân trên Hot 100 từ tuần đầu tiên, được trích từ album nhạc phim Valentine's Day.

Album phòng thu thứ ba của cô, Speak Now, được phát hành vào năm 2010. Album đứng đầu bảng xếp hạng Billboard 200 trong sáu tuần không liên tiếp.[13] Album đạt doanh số 1.047.000 bản trong tuần đầu phát hành, trở thành album thứ 16 trong lịch sử âm nhạc đạt tới doanh số 1 triệu bản chỉ trong tuần đầu tiên.[14] Album đạt chứng nhận 4 lần bạch kim bởi RIAA.[3] Album cho phát hành 6 đĩa đơn, trong đó, hai đĩa đơn đầu tiên lần lượt là "Mine" và "Back to December" (2010) đều ra mắt trong tốp 10 trong tuần đầu tiên.[5] Ba đĩa đơn khác, là "Mean", "Sparks Fly" và "Ours" (2011) đều lọt vào tốp 17 bảng xếp hạng Billboard Hot 100[5] và tốp 2 bảng xếp hạng Hot Country Songs[15].

Album phòng thu thứ tư của Taylor Swift mang tên Red đã được phát hành vào ngày 22 tháng 10 năm 2012. Album đã tiêu thụ được 1.208.000 bản ngay trong tuần đầu tiên.[16] Đây là album thứ hai của Swift tiêu thụ được hơn 1 triệu bản ngay trong tuần đầu tiên sau khi phát hành. Album đạt vị trí quán quân tại nhiều nước bao gồm Mỹ, Úc, Ireland, New Zealand và Liên hiệp Anh. Đĩa đơn đầu tiên trích từ album, "We Are Never Ever Getting Back Together" được phát hành vào tháng 8 năm 2012. Đây là đĩa đơn xếp hạng cao nhất của Swift tại Mỹ, đạt vị trí quán quân trên Hot 100 và Hot Country Songs. Ngoài ra, "We Are Never Ever Getting Back Together còn đạt vị trí quán quân tại Canada và New Zealand, phá kỷ lục trước đó của "Tik Tok" (bởi Kesha) và "Born This Way" trên các bảng xếp hạng iTunes. Hai đĩa đơn tiếp theo, "Begin Again" và "I Knew You Were Trouble" đều lọt vào tốp 10 trên bảng xếp hạng Hot 100.[5]

Album[sửa | sửa mã nguồn]

List of studio albums, with selected chart positions, sales figures and certifications
Title Album details Peak chart positions Sales Certifications
US
[17]
US
Country

[18]
AUS
[19]
CAN
[20]
GER
[21]
IRE
[22]
JPN
[23]
NOR
[24]
NZ
[25]
UK
[26]
Taylor Swift
  • Phát hành:24 tháng 10, 2006
  • Hãng đĩa: Big Machine
  • Định dạng:CD,tải kĩ thuật số
5 1 33 14 53 38 81
Fearless
    • Phát hành:11 tháng 11,2008
    • Hãng đĩa: Big Machine
    • Định dạng: CD, tải kĩ thuật số
1 1 2 1 12 7 8 5 1 5
Speak Now
    • Phát hành:25 tháng10,2010
    • Hãng đĩa: Big Machine
    • Định dạng:LP,CD, tải kĩ thuật số
1 1 1 1 15 6 6 4 1 6
Red
    • Phát hành:22 tháng10,2012
    • Hãng đĩa: Big Machine
    • Định dạng: CD, tải kỹ thuật số
1 1 1 1 5 1 3 2 1 1
  • RIAA: 4× Platinum[29]
  • ARIA: 3× Platinum[30]
  • BPI: Platinum[31]
  • IRMA: Platinum[41]
  • MC: 4× Platinum[32]
  • RIAJ: Platinum[42]
  • RMNZ: 2× Platinum[43]
1989
  • Released: 27 tháng 10, 2014
  • Label: Big Machine
  • Formats: CD, digital download
Sẽ được phát hành
"—" denotes a recording that did not chart or was not released in that territory.

Đĩa mở rộng[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách đĩa mở rộng với vị trí trên các bảng xếp hạng và doanh thu
Tựa đề Chi tiết Vị trí cao nhất trên bảng xếp hạng Chứng nhận Doanh số
Mỹ
[1]
Đồng quê Mỹ[2]
Sounds of the Season: The Taylor Swift Holiday Collection
  • Phát hành: 14 tháng 10, 2007
  • Hãng đĩa: Big Machine
  • Định dạng: CD, tải kĩ thuật số
8 3
  • Mỹ: Vàng
Beautiful Eyes
  • Phát hành: 15 tháng 7, 2008
  • Hãng đĩa: Big Machine
  • Định dạng: CD, tải kĩ thuật số
2 1
  • Mỹ: 2× Bạch kim
  • Mỹ: 1.304.000[44]

Album trực tiếp[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách album trực tiếp với vị trí trên các bảng xếp hạng
Tựa đề Chi tiết Vị trí xếp hạng cao nhất
Mỹ
[45]
Đồng quê Mỹ
[45]
Úc
[9]
Canada
[46]
Connect Set
  • Phát hành: 30 tháng 1, 2007
  • Hãng đĩa: Big Machine
  • Định dạng: CD
8 6 38 25
Live from SoHo
  • Phát hành: 15 tháng 1, 2008
  • Hãng đĩa: Big Machine
  • Định dạng: tải kỹ thuật số
15 9 13 21
Speak Now: World Tour Live
  • Phát hành: 21 tháng 11, 2011
  • Hãng đĩa: Big Machine
  • Định dạng: CD, DVD
1 2 8 5
"—" Album không phát hành/không có mặt trong bảng xếp hạng ở quốc gia đó.

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Như nghệ sĩ chính[sửa | sửa mã nguồn]

List of singles as main artist, with selected chart positions, sales figures and certifications
Title Year Peak chart positions Certifications Album
US
[47]
AUS
[48]
CAN
[49]
DEN
[50]
GER
[51]
IRE
[22]
JPN
[52]
NZ
[25]
SWE
[53]
UK
[54]
"Tim McGraw" 2006 40
  • RIAA: Platinum[29]
Taylor Swift
"Teardrops on My Guitar" 2007 13 45 51
  • RIAA: 3× Platinum[29]
  • MC: Platinum[32]
"Our Song" 16 30
  • RIAA: 3× Platinum[29]
  • MC: Platinum[32]
"Picture to Burn" 2008 28 48
"Should've Said No" 33 67 18
  • RIAA: Platinum[29]
"Change" 10 AT&T Team USA Soundtrack
"Love Story" 4 1 4 16 22 3 3 3 10 2 Fearless
"White Horse" 13 41 43 60
"Crazier" 2009 17 57 67 100 Hannah Montana: The Movie
"You Belong with Me" 2 5 3 32 12 14 5 47 30 Fearless
"Fifteen" 23 48 19
"Fearless" 2010 9 69 111
  • RIAA: Platinum[29]
"Today Was a Fairytale" 2 3 1 41 29 57 Valentine's Day
"Mine" 3 9 7 57 38 6 16 48 30 Speak Now
"Back to December" 6 26 7 24
"Mean" 2011 11 45 10
"The Story of Us" 41 65 70
"Sparks Fly" 17 97 28
  • RIAA: Platinum[29]
"Ours" 13 91 68 181
  • RIAA: Platinum[29]
"Safe & Sound"
(featuring The Civil Wars)
30 38 31 11 67
  • RIAA: Platinum[29]
The Hunger Games
"Long Live"
(featuring Paula Fernandes)
2012 Speak Now World Tour – Live
"Eyes Open" 19 47 17 65 6 70 The Hunger Games
"We Are Never Ever Getting Back Together" 1 3 1 18 21 4 2 1 16 4
  • RIAA: 4× Platinum[29]
  • ARIA: 4× Platinum[58]
  • BPI: Platinum[31]
  • IFPI DEN: Platinum[63]
  • IFPI SWE: Platinum[64]
  • RIAJ: Platinum[61]
  • MC: Gold[32]
  • RMNZ: 2× Platinum[65]
Red
"Ronan" 16 N/A
"Begin Again" 7 20 4 25 11 30 Red
"I Knew You Were Trouble" 2 3 2 3 9 4 51 3 37 2
"22" 2013 20 21 20 12 53 23 9
"Highway Don't Care"
(with Tim McGraw)
22 73 21
  • RIAA: Platinum[72]
Two Lanes of Freedom
"Red" 6 30 5 25 14 26
  • RIAA: Platinum[29]
Red
"Everything Has Changed"
(featuring Ed Sheeran)
32 28 28 5 22 7
"Sweeter Than Fiction" 34 44 17 38 26 25 One Chance
"The Last Time"
(featuring Gary Lightbody)
73 15 25 Red
"Red (2013 CMA Awards Performance)"[74]
(featuring Alison Krauss, Edgar Meyer, Eric Darken, Sam Bush and Vince Gill)
N/A
"Shake It Off" 2014 1 5 1 48 14 2 4 1989
"—" Đĩa đơn không phát hành hoặc không xếp hạng tại quốc gia đó.

Với vai trò là nghệ sĩ hợp tác[sửa | sửa mã nguồn]

Tựa đề Năm Vị trí xếp hạng cao nhất Chứng nhận Album
Mỹ
[75]
Úc
[76]
Canada
[77]
Anh
[78]
"Two Is Better Than One"
(Boys Like Girls hợp tác với Taylor Swift)
2009 18 18
  • Mỹ: Bạch kim[79]
Love Drunk
"Half of My Heart"
(John Mayer hợp tác với Taylor Swift)
2010 25 71 53 Battle Studies
"Both of Us"
(B.o.B hợp tác với Taylor Swift)
2012 8 5 15 19
  • Mỹ: Vàng[81]
  • New Zealand: Vàng[82]
Strange Clouds
"—" đĩa đơn không phát hành hoặc không xếp hạng tại quốc gia đó.

Đĩa đơn quảng bá[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Năm Vị trí xếp hạng cao nhất Chứng nhận Album
Mỹ
[47]
Đồng quê Mỹ
[83]
Úc
[48]
Canada
[49]
Ireland
[84]
New Zealand
[25]
LH Anh
[54]
"Breathe"
(hợp tác với Colbie Caillat)
2008 87 Fearless
"You're Not Sorry" 11 11
"American Girl"[A] 2009 115 Không thuộc album nào
"Crazier" 17 37 52 12 Hannah Montana
"Today Was a Fairytale" 2010 2 41 3 1 41 29 57
  • Mỹ: Bạch kim[29]
  • Úc: Bạch kim[85]
Valentine's Day
"Speak Now" 8 5 20 8 9 25 32 Speak Now
"Safe & Sound"
(hợp tác với The Civil Wars)
2011 9 12 12 21 7 11 18
  • Mỹ: Bạch kim[29]
The Hunger Games
"Red" 2012 5 1 6 12 8 14 11
  • Mỹ: Bạch kim
  • New Zealand: Vàng
Red
"State of Grace" 13 44 9 43 20 36
"—" Đĩa đơn không phát hành hoặc không xếp hạng tại quốc gia đó.

Các bài hát được xếp hạng khác[sửa | sửa mã nguồn]

Tựa đề Năm Vị trí xếp hạng cao nhất Chứng nhận Album
Mỹ
[5]
Đồng quê Mỹ
[15]
Úc
[86][87]
Canada
[88]
Ireland
[84]
LH Anh
[89]
"I'm Only Me When I'm with You"[B] 2007 18 6 28 32 15 42
  • Mỹ: Vàng[3]
Taylor Swift
"Invisible"[C] 52 25 41
"Last Christmas" 28 10 Sounds of the Season:
The Taylor Swift Holiday Collection
"Christmases When You Were Mine" 48 28
"Santa Baby" 43
"Silent Night" 54 32 12
"White Christmas" 59
"Umbrella"[D] 2008 18 62 Live from SoHo
"Hey Stephen" 42 Fearless
"Tell Me Why"[E] 62 11 32
"The Way I Loved You" 72
"Forever & Always" 15 13 32 37 17 11
  • Mỹ: Bạch kim[3]
"The Best Day"[F] 28 16 18
"Jump Then Fall" 2009 10 59 98 14
  • Mỹ: Vàng[3]
"Untouchable" 19 23
"Come in with the Rain" 30 40
"Superstar" 26 35
"The Other Side of the Door" 22 30
"Breathless" 2010 72 49 116 Hope for Haiti Now
"Dear John" 54 68 Speak Now
"Never Grow Up" 84
"Enchanted" 75 95
"Better Than Revenge" 56 73
"Innocent" 27 53
"Haunted" 63 61
"Last Kiss" 71 99
"Drops of Jupiter" (phiên bản trực tiếp)[G] 2011 107 Speak Now World Tour: Live
"Everything Has Changed"
(hợp tác với Ed Sheeran)
2012 1 2 8 7 18 9
  • Mỹ: Bạch kim[29]
  • Úc: Bạch kim
Red
"22" 1 3 6 12 4 5
"I Almost Do" 65 13 50
"All Too Well" 80 17 59
"Stay Stay Stay" 91 24 70
"The Moment I Knew" 58 197
"Come Back...Be Here" 64 188
"Treacherous"[H] 102 26 65
"The Last Time"
(hợp tác với Gary Lightbody)[I]
12 3 8 9 11 12
"Girl at Home" 75
"Starlight"[J] 105 80
"The Lucky One"[K] 113 33 88
"Holy Ground"[L] 112 32 89
"Sad Beautiful Tragic"[M] 118 37 92
"—" bài hát không xếp hạng hoặc không phát hành tại quốc gia đó.

Các xuất hiện khác[sửa | sửa mã nguồn]

Tựa đề Năm Nghệ sĩ khác Album
"Should've Said No"[90] 2009 Jonas Brothers Music from the 3D Concert Experience
"Breathless"[91] 2010 none Hope for Haiti Now

Video âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Tựa đề Năm Đạo diễn
"Tim McGraw" 2006 Trey Fanjoy[92][93][94]
"Teardrops on My Guitar" 2007
"Our Song"
"I'm Only Me When I'm with You" 2008 Taylor Swift[95]
"Picture to Burn" Trey Fanjoy[96]
"Beautiful Eyes" Trey Fanjoy, Todd Cassetty[97]
"Change" Shawn Robbins[98]
"Love Story" Trey Fanjoy[99][100]
"White Horse" 2009
"Crazier" Peter Chelsom[101]
"You Belong with Me" Roman White[102]
"The Best Day" Taylor Swift[103]
"Fifteen" Roman White[104]
"Two Is Better Than One" (với Boys Like Girls) Meiert Avis, Jeremy Alter[105]
"Fearless" 2010 Todd Cassetty[106]
"Half of My Heart" (với John Mayer) P. R. Brown[107]
"Mine" Roman White, Taylor Swift[108]
"Back to December" 2011 Yoann Lemoine[109]
"Mean" Declan Whitebloom[110]
"The Story of Us" Noble Jones[111]
"Sparks Fly" Christian Lamb[112]
"Ours" Declan Whitebloom[113]
"Safe & Sound"
(hợp tác với The Civil Wars)
2012 Philip Andelman[114]
"Both of Us"(với B.o.B) Jake Nava[115]
"We Are Never Ever Getting Back Together" Declan Whitebloom[116]
"Begin Again" Philip Andelman[117]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  • A ^ "American Girl" không xếp hạng trên Billboard Hot 100 nhưng đạt vị trí 15 trên Bubbling Under Hot 100 Singles bảng xếp hạng 25 ca khúc dưới Hot 100.[118]
  • B ^ "I'm Only Me When I'm with You" không xếp hạng trên Billboard Hot 100 nhưng đạt vị trí 15 trên Bubbling Under Hot 100 Singles.[119]
  • C ^ "Invisible" không xếp hạng trên Billboard Hot 100 nhưng đạt vị trí 3 trên Bubbling Under Hot 100 Singles.[120]
  • D ^ "Umbrella" không xếp hạng trên Billboard Hot 100 nhưng đạt vị trí 4 trên Bubbling Under Hot 100 Singles.[121]
  • E ^ "Tell Me Why" không xếp hạng trên Billboard Hot 100 nhưng đạt vị trí quán quân trên Bubbling Under Hot 100 Singles.[122]
  • F ^ "The Best Day" không xếp hạng trên Billboard Hot 100 nhưng đạt vị trí 3 trên Bubbling Under Hot 100 Singles.[122]
  • G ^ "Drops of Jupiter" (phiên bản trực tiếp) không xếp hạng trên Billboard Hot 100 nhưng đạt vị trí 7 trên Bubbling Under Hot 100 Singles.[123]
  • H ^ "Treacherous" không xếp hạng trên Billboard Hot 100 nhưng đạt vị trí 2 trên Bubbling Under Hot 100 Singles.[124]
  • I ^ "The Last Time" không xếp hạng trên Billboard Hot 100 nhưng đạt vị trí 3 trên Bubbling Under Hot 100 Singles.[124]
  • J ^ "Starlight" không xếp hạng trên Billboard Hot 100 nhưng đạt vị trí 5 trên Bubbling Under Hot 100 Singles.[124]
  • K ^ "The Lucky One" không xếp hạng trên Billboard Hot 100 nhưng đạt vị trí 13 trên Bubbling Under Hot 100 Singles.[124]
  • L ^ "Holy Ground" không xếp hạng trên Billboard Hot 100 nhưng đạt vị trí 12 trên Bubbling Under Hot 100 Singles.[124]
  • M ^ "Sad Beautiful Tragic" không xếp hạng trên Billboard Hot 100 nhưng đạt vị trí 18 trên Bubbling Under Hot 100 Singles.[124]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên billboard200
  2. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên country
  3. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên riaa
  4. ^ Trust, Gary (29 tháng 10 năm 2009). “Chart Beat Thursday: Taylor Swift, Tim McGraw Linked Again”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2010. 
  5. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên hot100
  6. ^ Caulfield, Keith (25 tháng 2 năm 2009). “'Slumdog' Barks While Taylor Swift Nets 10th Week At No. 1”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2010. 
  7. ^ Caulfield, Keith (6 tháng 1 năm 2010). “Taylor Swift Edges Susan Boyle For 2009's Top-Selling Album”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2010. 
  8. ^ Pietroluongo, Silvio (12 tháng 11 năm 2009). “Rihanna's 'Roulette' Lands In Hot 100's Top 10”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2010. 
  9. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên aus
  10. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên auscertisingle
  11. ^ Roland, Tom (17 tháng 12 năm 2009). “Taylor Swift "Fearless"-ly Sets A New Precedent”. Great American Country. Scripps Networks Interactive. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2010. 
  12. ^ “Best of 2009 – Artists of the Year”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2010. 
  13. ^ Caulfield, Keith (12 tháng 1 năm 2011). “Taylor Swift's 'Speak Now' Takes No. 1 in Record-Low Sales Week”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2011. 
  14. ^ Caulfield, Keith (4 tháng 11 năm 2010). “Taylor Swift Sells Over 1 Million in Record Billboard 200 Debut”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2011. 
  15. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên countrysongs
  16. ^ “Taylor Swift's 'Red' Sells 1.21 Million”. Billboard.  Đã bỏ qua tham số không rõ |acessdate= (gợi ý |accessdate=) (trợ giúp)
  17. ^ “Taylor Swift – Chart History: Billboard 200”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2010. 
  18. ^ “Taylor Swift – Chart History: Country Albums”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2010. 
  19. ^ “Discography Taylor Swift”. australian-charts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2010. 
  20. ^ “Taylor Swift – Chart History: Canadian Albums”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2010. 
  21. ^ “Chartverfolgung / Swift,Taylor / Longplay”. musicline.de (bằng German). Media Control Charts. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2010. 
  22. ^ a ă “Discography Taylor Swift”. irish-charts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2010. 
  23. ^ “テイラー・スウィフト” (bằng Japanese). Oricon. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2013. 
  24. ^ “Discography Taylor Swift”. norwegiancharts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2010. 
  25. ^ a ă â “Discography Taylor Swift”. charts.org.nz. Hung Medien. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2010. 
  26. ^ Peak chart positions for albums in the United Kingdom:
  27. ^ a ă “Taylor Swift Tops 20 Million in Record Sales”. Big Machine Records. 31 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2011. 
  28. ^ a ă â b Gary Trust (8 tháng 7 năm 2014). “Ask Billboard: Ed Sheeran & Taylor Swift's Red Reigns”. Billboard. 
  29. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s t u ư v x y aa ab ac ad “American certifications – Swift, Taylor”. Recording Industry Association of America. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2011. 
  30. ^ a ă “ARIA Charts – Accreditations – 2012 Albums”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2012. 
  31. ^ a ă â b c d đ e ê g “Certified Awards Search” (To access, enter the search parameter "Taylor Swift" and select "Search by Keyword"). British Phonographic Industry. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2010. 
  32. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô “Canada certifications – Taylor Swift”. Music Canada. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2011. 
  33. ^ a ă “ARIA Charts – Accreditations – 2010 Albums”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2011. 
  34. ^ “2009 Certification Awards – Multi Platinum”. Irish Recorded Music Association. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2010. 
  35. ^ “ゴールドディスク認定作品一覧 2010年2月” (bằng Japanese). Recording Industry Association of Japan. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2013. 
  36. ^ a ă “Latest Gold / Platinum Albums”. Radioscope. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2012. 
  37. ^ Wyland, Sarah (20 tháng 9 năm 2011). “Taylor Swift Celebrates Nashville Homecoming”. Great American Country. Scripps Networks Interactive. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2011. 
  38. ^ “2010 Certification Awards – Gold”. Irish Recorded Music Association. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2010. 
  39. ^ “ゴールドディスク認定作品一覧 2010年12月” (bằng Japanese). Recording Industry Association of Japan. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2013. 
  40. ^ Adams, Cameron (8 tháng 5 năm 2013). “Taylor Swift to play stadiums on Australian Red tour”. The Advertiser. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2013. 
  41. ^ “2012 Certification Awards – Platinum”. Irish Recorded Music Association. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2012. 
  42. ^ “ゴールドディスク認定作品一覧 2013年4月” (bằng Japanese). Recording Industry Association of Japan. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2013. 
  43. ^ “NZ Top 40 Albums Chart – 29 October 2012”. Recorded Music NZ. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2012. 
  44. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên 20mill
  45. ^ a ă “Country Albums Week of December 10, 2011”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2011. 
  46. ^ “Canadian Albums Week of December 10, 2011”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2011. 
  47. ^ a ă “Taylor Swift – Chart History: Hot 100”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2011. 
  48. ^ a ă Peak chart positions for singles in Australia:
  49. ^ a ă “Taylor Swift – Chart History: Billboard Canadian Hot 100”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2011. 
  50. ^ “Discography Taylor Swift”. danishcharts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2013. 
  51. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Germany
  52. ^ “Taylor Swift - Chart history”. Billboard. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2013. 
  53. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên SWE
  54. ^ a ă Peak chart positions for singles in the United Kingdom:
  55. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2009 Singles”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2010. 
  56. ^ “Certificeringer”. ifpi.dk. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2013. 
  57. ^ a ă â “Latest Gold / Platinum Singles”. Radioscope. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2012. 
  58. ^ a ă â b c “ARIA Charts – Accreditations – 2013 Singles”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2013. 
  59. ^ “一般社団法人 日本レコード協会|各種統計”. Riaj.or.jp. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2013. 
  60. ^ a ă “ARIA Charts – Accreditations – 2010 Singles”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2010. 
  61. ^ a ă “一般社団法人 日本レコード協会|各種統計”. Riaj.or.jp. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2013. 
  62. ^ “NZ Top 40 Singles Chart – 30 April 2012”. Recorded Music NZ. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2012. 
  63. ^ “Certificeringer”. ifpi.dk. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2013. 
  64. ^ “TAYLOR SWIFT We Are Never Ever Getting Back Together” (bằng Swedish). Sverigetopplistan. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2014. 
  65. ^ “NZ Top 40 Singles Chart – 7 January 2013”. Recorded Music NZ. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2013. 
  66. ^ “Gold-/Platin-Datenbank (Taylor Swift; 'I Knew You Were Trouble')” (bằng German). Bundesverband Musikindustrie. 
  67. ^ “Certificeringer”. ifpi.dk. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2013. 
  68. ^ “TAYLOR SWIFT I Knew You Were Trouble” (bằng Swedish). Sverigetopplistan. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2014. 
  69. ^ “NZ Top 40 Singles Chart – 21 January 2013”. Recorded Music NZ. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2013. 
  70. ^ “Certificeringer”. ifpi.dk. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2013. 
  71. ^ “NZ Top 40 Singles Chart – 22 April 2013”. Recorded Music NZ. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2013. 
  72. ^ “American certifications – McGraw, Tim”. Recording Industry Association of America. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2013. 
  73. ^ “NZ Top 40 Singles Chart – 22 September 2013”. Recorded Music NZ. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2013. 
  74. ^ “Red (2013 CMA Awards Performance) - Single by Taylor Swift”. iTunes. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2013. 
  75. ^ Peak chart positions for featured singles of Taylor Swift in the United States:
  76. ^ “ARIA Charts”. Pandoraarchive.com. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2010. 
  77. ^ Peak chart positions for featured singles of Taylor Swift in the Canada:
  78. ^ “Chart Stats - Taylor Swift”. Chart Stats. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2012. 
  79. ^ “RIAA – Boys Like Girls singles”. RIAA.com. Recording Industry Association of America. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2010. 
  80. ^ “RIAA – John Mayer singles”. RIAA.com. Recording Industry Association of America. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2010. 
  81. ^ “B.o.B.'s "Both Of Us" Featuring Taylor Swift Goes Gold”. roselilah. Hot News Hip Hop. 18 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2012. 
  82. ^ “RIANZ”. Recording Industry Association of New Zealand. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2010. 
  83. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên US-Country-singles
  84. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên irish
  85. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên auscertisingle2010
  86. ^ “Chartifacts – Week Commencing: 8th November 2010”. Australian Recording Industry Association. 8 tháng 11 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2010. 
  87. ^ “ARIA Charts”. Pandoraarchive.com. Australian Recording Industry Association. 30 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2010. 
  88. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên cansingle
  89. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên uk2
  90. ^ Erlewine, Stephen Thomas. “Music from the 3D Concert Experience – Jonas Brothers”. AllMusic. Rovi Corporation. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2012. 
  91. ^ Leahey, Andrew. “Hope for Haiti Now – Various Artists”. AllMusic. Rovi Corporation. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2012. 
  92. ^ “Taylor Swift: Tim McGraw”. CMT. Viacom. Truy cập 3 tháng 1, 2010. 
  93. ^ “Taylor Swift: Teardrops on My Guitar”. CMT. Viacom. Truy cập 3 tháng 1, 2010. 
  94. ^ “Taylor Swift: Our Song”. CMT. Viacom. Truy cập 3 tháng 1, 2010. 
  95. ^ “Taylor Swift: I'm Only Me When I'm with You”. CMT. Viacom. Truy cập 3 tháng 1, 2010. 
  96. ^ “Taylor Swift: Picture to Burn”. CMT. Viacom. Truy cập 3 tháng 1, 2010. 
  97. ^ Beautiful Eyes (CD liner notes). Big Machine Records. 2008.  Đã bỏ qua tham số không rõ |publisherid= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |artist= (trợ giúp)
  98. ^ “Bing Video: Change by Taylor Swift”. Bing. Microsoft. Truy cập 24 tháng 1, 2010. 
  99. ^ “Taylor Swift: Love Story”. CMT. Viacom. Truy cập 3 tháng 1, 2010. 
  100. ^ “Taylor Swift: White Horse”. CMT. Viacom. Truy cập 3 tháng 1, 2010. 
  101. ^ Vena, Jocelyn (3 tháng 4 năm 2009). “Taylor Swift Is A Big Hit With 'Hannah Montana' Cast, Director”. MTV Music. MTV Networks. Truy cập 5 tháng 10, 2012. 
  102. ^ “Taylor Swift: You Belong with Me”. CMT. Viacom. Truy cập 3 tháng 1, 2010. 
  103. ^ “Taylor Swift: The Best Day”. CMT. Viacom. Truy cập 3 tháng 1, 2010. 
  104. ^ “Taylor Swift: Fifteen”. CMT. Viacom. Truy cập 3 tháng 1, 2010. 
  105. ^ “Two Is Better Than One | Boys Like Girls”. MTV Music. MTV Networks. Truy cập 5 tháng 10, 2012. 
  106. ^ “Taylor Swift: Fearless”. CMT. Viacom. Truy cập 3 tháng 1, 2010. 
  107. ^ “Half of My Heart | John Mayer”. MTV Music. MTV Networks. Truy cập 5 tháng 10, 2012. 
  108. ^ “Taylor Swift: Mine”. CMT. Viacom. Truy cập 29 tháng 8, 2010. 
  109. ^ “Taylor Swift: Back to December”. CMT. Viacom. Truy cập 29 tháng 8, 2010. 
  110. ^ “Taylor Swift: Mean”. CMT. Viacom. Truy cập 29 tháng 8, 2010. 
  111. ^ “Taylor Swift: The Story of Us”. CMT. Viacom. Truy cập 29 tháng 8, 2010. 
  112. ^ “Taylor Swift To Release 'Sparks Fly' Video Tomorrow”. AllAccess.com. 9 tháng 8, 2011. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2011. 
  113. ^ “Ours | Taylor Swift”. MTV Music. MTV Networks. Truy cập 5 tháng 10, 2012. 
  114. ^ “Taylor Swift: Safe & Sound”. CMT. Viacom. Truy cập 13 tháng 2, 2012. 
  115. ^ “Both Of Us featuring Taylor Swift | B.o.B”. MTV Music. MTV Networks. Truy cập 5 tháng 10, 2012. 
  116. ^ “We Are Never Ever Getting Back Together | Taylor Swift”. MTV Music. MTV Networks. Truy cập 5 tháng 10, 2012. 
  117. ^ “Taylor Swift: Begin Again”. CMT. Viacom. Truy cập 31 tháng 10, 2012. 
  118. ^ “Bubbling Under Hot 100 – Issue Date: 2010-01-16”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập 5 tháng 10, 2012. 
  119. ^ “Bubbling Under Hot 100 – Issue Date: 2008-04-19”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập 6 tháng 10, 2012. 
  120. ^ “Bubbling Under Hot 100 – Issue Date: 2007-11-24”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập 6 tháng 10, 2012. 
  121. ^ “Bubbling Under Hot 100 – Issue Date: 2008-02-02”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập 5 tháng 10, 2012. 
  122. ^ a ă “Bubbling Under Hot 100 – Issue Date: 2008-11-29”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập 5 tháng 10, 2012. 
  123. ^ “Bubbling Under Hot 100 – Issue Date: 2011-12-10”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập 5 tháng 10, 2012. 
  124. ^ a ă â b c d “Bubbling Under Hot 100 – Issue Date: 2012-11-10”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập 1 tháng 11, 2012.