Danh sách nhân vật Thái Bình

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Đây là trang chi tiết về rất nhiều danh nhân xuất xứ từ Thái Bình.

  • Bát nạn tướng quân Vũ Thị Thục Nương (thế kỷ I): quê ở Phong Châu (Vĩnh Phú), về vùng Tiên La (Ðoan Hùng, Hưng Hà) lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa chống quân xâm lược nhà Hán, sau là một nữ tướng kiệt xuất của Hai Bà Trưng.
  • Bùi Quang Dũng (922-1018)[cần dẫn nguồn] (thế kỷ X), một nhà hoạt động chính trị, quân sự nổi tiếng thời Ðinh. Ông có nhiều công lao tổ chức khai phá, mở mang kinh tế vùng Bố Hải khẩu.
  • Đỗ Đô (1042-?): quê ở Song Lãng, Vũ Thư, một thiền sư nổi tiếng thời Lý.
  • Thái uý Hùng quốc công Đinh Lan[cần dẫn nguồn] Thuở nhỏ có tên Đinh Tôn Nhân. Gia phả họ Đinh ở vùng Đô Kỳ - Y Đún viết: Nhật quốc sự triều Trần (biến loạn) có một ông họ Đinh tên Thỉnh văn hay chữ giỏi đã bỏ làng đến đất Đô Kỳ làm gia sư cho nhà họ Phạm, vừa để nương thân vừa để chờ thời. Ông chủ họ Phạm gả Phạm Thị Gái cho Đinh Thỉnh. Ít lâu sau vợ chồng Đinh Thỉnh sinh được một người con trai là Đinh Tôn Nhân. Hai cha con ông vào Lam Sơn theo Lê Lợi; được Lê Lợi yêu mến, xin cha mẹ gả em gái (Lê Thị Ngọc Vồi) cho Đinh Tôn Nhân. Tôn Nhân sinh được 1 gái 3 trai. Trưởng nữ là Đinh Thị Ngọc Kế, trưởng nam là Đinh Lễ và các thứ nam là Đinh Liệt, Đinh Bồ đều cùng cha tham gia cuộc khởi nghĩa ở Lam Sơn.

Con người Thái Bình thời tiền Thái Bình[sửa | sửa mã nguồn]

Lĩnh vực hoạt động chính trị, quân sự: có những cá nhân bá chủ hùng cứ một phương như Trần Lãm (?-967).

Những vị công thần khai quốc lập nên cả một triều đại như Trần Thủ Độ (1194-1264), Trần Thị Dung (?-1259),...

Thủ lĩnh phong trào khởi nghĩa nông dân chống triều đình phong kiến: Hoàng Công Chất (?-1767), Phan Bá Vành (?-1827),...

Những quan lại nổi bật của các triều đại phong kiến: Bùi Quang Dũng[cần dẫn nguồn] (922-1018), Bùi Mộc Đạc (1265-1326), Nguyễn Thị Lộ (?-1442), Quách Đình Bảo, Quách Hữu Nghiêm, Nguyễn Bảo (1452-?), Bùi Sĩ Tiêm (1690-1733), Nguyễn Tông Quai (1693 - 1767), Lê Trọng Thứ (1694-1782), Lê Quý Đôn (1726-1784), Uông Sĩ Ðiển (1737-1802), Ðoàn Nguyễn Tuấn (1750-?), Doãn Uẩn, Nguyễn Quang Bích,...

Các tướng lĩnh nổi bật của các triều đại phong Việt Nam: Đoàn Nguyễn Thục (1718-1775)[1][2], Doãn Uẩn, Phạm Thế Hiển, Tạ Hiện,...

những nhà ngoại giao: Đỗ Lý Khiêm, Đoàn Nguyễn Tuấn[2], Bùi Viện (1839-1878),...

Quan lại, sĩ phu chống Pháp xâm lược cuối thế kỷ 19: Phạm Thế Hiển, Nguyễn Mậu Kiến (1819-1879), Doãn Khuê, Tạ Hiện, Nguyễn Quang Bích, Nguyễn Hữu Bản (1841 - 1883), Phạm Huy Quang (1846-1888),...

Văn thân nhân sĩ yêu nước hoạt động chống Pháp xâm lược, cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20: Đào Nguyên Phổ, Nguyễn Hữu Cương (1855-1912), Trần Xuân Sắc (1848 - 1919), Ngô Quang Ðoan (1872 - 1945),...

Lãnh tụ nhân dân nổi dậy chống Pháp: Nguyên Thành Thà (? - 1895), Ðốc Ðen tức Bùi Như Quảng, Nguyễn Văn Cẩm (1874-1929),...

Về Khoa cử vùng đất nay là Thái Bình có 2 (trong 48 vị) trạng nguyên của Việt Nam là Phạm Đôn Lễ (1457-đỗ 1481-?), Đỗ Lý Khiêm (?-đỗ 1499-?).

Trong lịch sử khoa cử Việt Nam thời phong kiến tỉnh Thái Bình có 111 tiến sĩ nho học mà các tên tuổi tiêu biểu như: Đăng Nghiêm, Quách Đình Bảo, Quách Hữu Nghiêm (1442-1504), Phạm Đôn Lễ, Đỗ Lý Khiêm, Đỗ Vinh (?- đỗ 1508-?)[3], Bùi Sĩ Tiêm (1690-1733), Nguyễn Tông Quai (1693 - 1767), Lê Trọng Thứ (1694-1782), Lê Quý Đôn (1726-1784), Uông Sĩ Ðiển (1737-1802), Phạm Thế Hiển (1803-1861), Doãn Khuê (1813-1878), Nguyễn Quang Bích (1832-1890), Đào Nguyên Phổ(1861-1909),...

  • Trần Lãm (?-967) là hào trưởng, gốc Hán, ở vùng Bố Hải Khẩu (Kỳ Bố Hải Khẩu) nay là phường Kỳ Bá thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Ông tự xưng Trần Minh Công khi chiếm giữ và cát cứ vùng đất này. Lực lượng của ông có sự liên kết, phối hợp với Đinh Bộ Lĩnh, theo sử sách thì Đinh Bộ Lĩnh chính là con nuôi của Trần Lãm[1]. Sau khi ông mất, Đinh Bộ Lĩnh nắm binh quyền, chuyển về Hoa Lư đánh dẹp các sứ quân, lập ra nhà Đinh (968 - 980).
  • Tiến sĩ Ðặng Nghiêm[cần dẫn nguồn] (thế kỷ XII): quê ở làng An Ðể - xã Hiệp Hoà - huyện Vũ Thư, là người Thái Bình đầu tiên thi đỗ đại khoa (tiến sĩ) năm 1185.
  • Thái sư Trần Thủ Độ (1194-1264): quê ở làng Phù Ngự (nay thuộc Liên Hiệp - Hưng Hà), nhà hoạt động chính trị, có công sáng lập triều Trần.
  • Lưu thủ kinh đô thái úy Trần Nhật Hiệu Là con thứ Thượng hoàng Trần Thừa và Lê thị Quốc Thánh Hoàng Thái hậu, là cháu ngoại Thái Phó Lê Điện triều Lý (quê ở ấp Lê Xá, xã Phù Sơn, Hưng Hà). Ông sinh năm 1225 tại phủ đệ Tinh Cương (xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà). Dưới đời Thái Tông từng giữ chức Lưu thủ kinh đô, Thái uý. Sang đời Trần Thánh Tông (1258-1278) là trọng thần nhà Trần.
  • Trần Thị Dung (?-1259): quê làng Phù Ngự (nay thuộc Liên Hiệp - Hưng Hà), người phụ nữ nổi tiếng, có nhiều công lao trong việc sáng lập và củng cố vương triều nhà Trần, có công trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên, Mông, là vợ của Trần Thủ Độ.
  • Thẩm hình viện sự Bùi Mộc Đạc Quê làng Tri Lai, tổng Tri Lai (nay thuộc xã Phú Xuân – Thành phố Thái Bình), văn tài xuất chúng, vẩy bút thành thơ, thông suốt hình luật. Nhân tức cảnh đề thơ tại Thiên Trường, văn chương trác việt, Thượng hoàng Nhân Tông vân du, đọc thơ ông khen là “giỏi”, không qua thi cử mà thăng đến chức Thẩm hình viện sự. Thượng Hoàng Trần Nhân Tông, các vua Trần Anh Tông và Trần Minh Tông đều tin dùng.
  • Đô kỵ uý Đỗ Nguyên Chương[cần dẫn nguồn] tự là Đỗ Huỳnh, quê làng An Để, nay thuộc xã Hiệp Hoà, huyện Vũ Thư là con cháu xa đời Hoàng hậu Đỗ Thị Khương đời Lý Nam Đế. Thuở nhỏ theo cha vào kinh, đến khoa Giáp Dần (1314) đời Trần Minh Tông, đỗ Thái học sinh. Buổi đầu làm Tri chế cáo ở Hàn lâm viện, giúp thảo văn bản cho vua, sau chuyển sang ban võ giữ chức Đô kỵ uý, được triều đình cấp thực ấp lớn ở huyện Cẩm Giàng (tỉnh Hải Dương).
  • Tiến sĩ Nguyễn Thành (tiến sĩ)[cần dẫn nguồn] (cuối thế kỷ XIV - đầu XV): quê ở Thăng Long - Ðông Hưng, có công trong kháng chiến chống quân Minh, là Tế tửu Quốc tử giám (hiệu trưởng trường đại học quốc gia đầu tiên của Việt Nam) ở cả hai triều Hồ, Lê.
  • Nhập nội thiếu uý Bùi Quốc Hưng[cần dẫn nguồn] vốn quê làng Tri Lai, tổng Tri Lai, huyện Vũ Tiên, phủ Kiến Xương (Nay là thôn Phú Lạc, xã Phú Xuân, Thành phố Thái Bình). Ngô gia thế phả phần ngoại tổ viết: “Cáo tổ bên ngoại là Bùi Mộc Đạc nguyên gốc ở phủ Kiến Xương, huyện Vũ Tiên xã Cổ Lai. Ông làm quan dưới triều Trần, sinh ra Bùi Mộc Đức, Bùi Mộc Đống… sau chuyển vào hương Khả Lam”. Bùi Mộc Đức lấy con gái Lê Văn Thịnh là Lê Thị Ngọc Trinh, sinh ra Bùi Quốc Hưng.
  • Hưng nghĩa hầu Vũ Uy[cần dẫn nguồn] Là cháu 4 đời Phò mã đô uý Hưng Mĩ hầu Vũ Trung Khái ở ấp Tô Xuyên (xã An Mỹ, huyện Quỳnh Phụ). Vũ Uy còn có tên Vũ Công Toản: “Năm 1399, khi Hồ Quý Ly nắm toàn bộ quyền bính nội trị, ngoại giao…, cơ nghiệp nhà Trần đã sang tay họ Hồ. Ngài … với khí phách trung nghĩa cùng… 12 tôn thất nhà Trần chạy về điền trang Tô Xuyên… chiêu mộ binh sỹ để khôi phục quốc tộc” (Gia phả họ Vũ: trang 12).

Gia phả họ Trần cũng chép: “Cao tổ họ Trần là Cẩn Trai…khoảng cuối thời nhà Trần bị nhà Hồ cướp ngôi, giặc Minh xâm chiếm nước Nam, tổ tiên ta bồng bế con cháu chạy tản cư ra xa, thấy địa hình nơi nay… Phía Đông nhìn ra biển lớn. Sông Tô ngăn cách Bắc-Nam, Sông Đông bao bọc bèn muốn thiên cứ đến vùng này mưu đồ khôi phục nhà Trần… trong vòng 8-9 năm nhiều lần đánh lên phương Bắc…”.

  • Vĩnh Lâm hầu - Đại tướng Quân Bùi Công Nghiệp[cần dẫn nguồn] Người ấp Hàm Châu, (Nay là thôn Đồng Thanh, xã Tân Bình, huyện Vũ Thư), con trai Bùi Quang Chiêu, cháu nội quan Bình Nam đại tướng quân, Thái uý Bùi Quang Chiểu, buổi đầu xung quân Thần Sách, được phong chức Đô hiệu điểm.
  • Hoàng giáp Đặng Diễn[cần dẫn nguồn] Là cháu nội Minh kinh bác học, thuyết thư ngự tiền Đặng Nghiễm thời Lý. Quê tại làng An Để, Châu Hoàng, phủ Kiến Xương (nay là thôn An Để, xã Hiệp Hoà, huyện Vũ Thư).
  • Phạm Bôi[cần dẫn nguồn] Xuất thân trong gia đình cự tộc họ Phạm làng Đông Địa Linh, xã An Bài, huyện Quỳnh Phụ, là bạn đồng trang lứa với huấn đạo Phạm Nhữ Dực (cùng xã, là nhà thơ nổi tiếng đời Hồ).
  • Phạm Ðôn Lễ làm chánh sứ sang Trung Quốc, học được nghề dệt chiếu về mở mang ở quê, đến nay còn gìn giữ và phát triển.
  • Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ (thế kỷ XV): quê ở làng Hải Hồ (nay thuộc xã Tân Lễ, Hưng Hà), bà cùng chồng là Nguyễn Trãi góp nhiều công lao xây dựng và củng cố vương triều nhà Lê.
  • Thượng thư Quách Đình Bảo (quê xã Thái Phúc huyện Thái Thụy tỉnh [Thái Bình]). Ông đỗ Thám hoa dưới thời vua Lê Thánh Tông và đóng góp lớn trong việc đi nhà Minh, bàn chuyện Chiêm Thành. Ông được phong Thượng thư bộ Lễ kiêm Tả xuân phường, Tả trung doãn, sau sang Thượng thư bộ Hình. Ông có những đóng góp lớn lao của ông trong chiến lược dùng người tài quốc gia. Ông là một thành viên tích cực và là một trong 28 vì tinh tú của Hội Tao Đàn.
  • Hoàng giáp Quách Hữu Nghiêm (thế kỷ XV), em ruột Quách Ðình Bảo, là người nổi tiếng về tài năng học rộng, đỗ cao, thơ hay, sứ giỏi.
  • Tiến sĩ Ðoàn Huệ Nhu[cần dẫn nguồn] (thế kỷ XV) quê làng Phù Ngự (nay thuộc Liên Hiệp, Hưng Hà), tham gia Tao Ðàn nhị thập bát tú do vua Lê Thánh Tông sáng lập.
  • Ðỗ Lý Khiêm (thế kỷ XVI) quê làng Ngoại Lãng (nay thuộc Song Lãng, Vũ Thư), làm chánh sứ, trên đường về đã hy sinh tại Bằng Tường (Trung Quốc).
  • Nguyễn Bảo Quê làng Tri Lai (Thành phố Thái Bình), dành hết cuộc đời dạy cho Thái tử Tranh (vua Lê Hiến Tông), ông được Lê Thánh Tông rất sủng ái. Lúc làm quan, khi cáo quan về vẫn sống rất thanh bạch, vua về tận nhà thăm hỏi, ông đem cơm dân dã dâng lên. Thánh Tông có thơ vịnh canh “cua đồng” vừa tôn trọng đức giản dị chân tình của bây tôi (Nguyễn Bảo), vừa là sự sảng khoái với món ăn dân dã. Đời sau khen: Chỉ có vị minh quân đã qua đời long đong về Thái Bình lánh nạn, nếm đủ mùi gian truân khổ cực (và cũng phải thực sự là một minh quân) mới có cái lòng bao dung và tâm hồn cao đẹp đến vậy.
  • Ðình nguyên Hoàng giáp Bùi Sĩ Tiêm (1690-1733). quê ở làng Kinh Lũ, huyện Đông Quan (nay là làng Kinh Hào, xã Đông Kinh, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình).là quan nhà Lê Trung Hưng trong lịch sử Việt Nam. Ông đỗ Hoàng giáp khoa thi Ất Mùi niên hiệu Vĩnh Thịnh năm thứ 11 thời Lê Dụ Tông.
  • Nguyễn Tông Quai (1693 - 1767)(trước thường đọc là Nguyễn Tông Khuê, huyện Hưng Hà), là thầy học của Lê Quý Đôn, hai lần đi sứ nhà Thanh.
  • Tiến sĩ Phạm Công Thế (1702 - ?) quê làng Hoàng Xá (nay thuộc Ðông Phương, Ðông Hưng), làm quan Ðông các hiệu thư, liên kết với các sĩ phu giúp cuộc khởi nghĩa Lê Duy Mật, việc bại lộ, ngang nhiên chịu chém và bị đục tên khỏi bia tiến sĩ.
  • bảng nhãn Lê Quý Đôn (1726 - 1784) quê làng Diên Hà (nay thuộc xã Ðộc Lập, Hưng Hà), nhà bác học lớn nhất Việt Nam thời phong kiến.
  • Cử nhân Ðoàn Nguyễn Tuấn (1750 - mất ?) quê làng Hải An (nay thuộc Quỳnh Nguyên, Quỳnh Phụ), trọng thần thời Tây Sơn, nhà chính trị, nhà ngoại giao, nhà thơ nổi tiếng.
  • Uông Sĩ Ðiển, còn có tên là Uông Sĩ Lãng (1733 - ?) quê làng Vũ Nghị (nay thuộc xã Thái Hưng, Thái Thuỵ), nhà sử học nổi tiếng.
  • Hoàng Công Chất (1706–1769)thủ lĩnh một cuộc khởi nghĩa nông dân Đàng Ngoài lớn giữa thế kỷ 18, chống nhà triều Lê-Trịnh.
  • Chu Đình Ngạn (được vua Lê ban họ, nên sử chép là Lê Đình Ngạn, người làng Trình Phố huyện Kiến Xương trước đây, nay là Trình Nhất xã An Ninh huyện Tiền Hải). Tướng quân dưới triều Lê, có công lập ra làng Trình Phố và phong tục họp chợ Giếng vào Tết âm lịch hàng năm, qua mấy trăm năm, vẫn được tổ chức).
  • Tiến sỹ Phạm Thế Hiển (1803 - 1861) Quê xã Thụy Phong huyện Thái Thụy, Thái Bình, tướng chống Pháp.
  • Doãn Khuê (1813 - 1878) Đốc học Nam Định kiêm Doanh điền sứ và Hải phòng sứ, sĩ phu chống Pháp (năm 1873).
  • Nguyễn Mậu Kiến (1819 - 1879) quê Ðộng Trung (nay thuộc Vũ Trung, Kiến Xương), nhà văn thân yêu nước nổi tiếng ở Bắc Kỳ.
  • Hoàng giáp Nguyễn Quang Bích (1832 - 1890) quê Trình Phố (nay là xã An Ninh, Tiền Hải), nhà thơ, nhà văn thân yêu nước chống Pháp. Đỗ Hoàng giáp triều Nguyễn, (là học trò của tiến sĩ Doãn Khuê), Thượng thư bộ Lễ, Hiệp thống Bắc kì quân vụ đại thần, Sơn phòng sứ Hưng Hóa (Phú Thọ). Văn thân chống Pháp tại Phú Thọ, đồng thời là một nhà thơ.
  • Cử nhân Nguyễn Doãn Cử (1821 - 1890) quê Dũng Nghĩa (nay thuộc xã Duy Nhất, Vũ Thư), nhà giáo giàu tài năng và uy tín, nhà thơ.
  • Cử nhân Phạm Huy Quang (1846 - 1888) quê Phù Lưu (nay thuộc xã Ðông Sơn, Ðông Hưng), một sĩ phu yêu nước chống Pháp.
  • Tạ Hiện (? - 1887) quê Quang Lang (nay thuộc xã Thuỵ Hải, Thái Thuỵ), một võ tướng giàu mưu lược, là thủ lĩnh vũ trang Cần Vương kháng Pháp.
  • Nguyễn Hữu Bản (1841 - 1883) quê Ðộng Trung (nay thuộc xã Vũ Trung, Kiến Xương), con trai nhà văn thân yêu nước Nguyễn Mậu Kiến, đã hy sinh trong trận chiến đấu giữ thành Nam Ðịnh năm 1883.
  • Cử nhân Nguyên Thành Thà (? - 1895) quê xã Thăng Long (Ðông Hưng), một võ sư, cha con, ông cháu kế tiếp nhau duy trì vũ trang kháng Pháp ở miền Ðịnh, Tu (Nam Ðịnh - Thái Bình - Hưng Yên).
  • Ðốc Ðen tức Bùi Như Quảng, quê làng Yên Lũ (nay thuộc xã Ðông Quang, Ðông Hưng), một trong những thủ lĩnh kiệt xuất trong phong trào vũ trang Cần Vương chống Pháp ở Thái Bình nửa cuối thế kỷ XIX.
  • Phó bảng Trần Xuân Sắc (1848 - 1919) quê làng Ðông Thành (nay thuộc xã Nam Hải, Tiền Hải), nhà yêu nước, nhà giáo, đã đào tạo được nhiều thế hệ học trò yêu nước.
  • Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm tên thật là Nguyễn Văn Cẩm(8/10/1874 - 1929),quê ông là làng Ngọc Đình, phủ Tiên Hưng, tỉnh Hưng Yên, nay là xã Văn Cẩm huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình.Vì ông có tiếng thông minh từ bé, và tương truyền chính vua Tự Đức cũng khen ngợi ông là Kỳ Đồng (đứa trẻ thông minh kỳ lạ), nên tục gọi ông là Kỳ Đồng. Ông lại được cha là nhà nho giỏi, dạy dỗ. Ông được chính phủ Pháp cấp học bổng sang học Trường trung học Alger, tốt nghiệp tú tài khoa học và văn chương. Ông có lẽ là Người Việt đầu tiên đỗ tú tài Pháp. Sau ngót 10 năm học ở nước ngoài,cuối năm 1896 ông về nước, lúc đó ông 22 tuổi.Nhưng khi đi học về, ông không nhận làm công chức cho Pháp. Lúc bấy giờ có phong trào chống Pháp do Mạc Đình Phúc (tức Khóa Trình) cầm đầu đang dấy lên,được nhân dân quanh vùng tỏ lòng tin tưởng đã tôn ông làm "Quốc sư" tham gia phong trào đó.
  • Cử nhân Phạm Tư Trực (1869 - 1921) quê làng Hoàng Xá (nay thuộc xã Nguyễn Xá, Vũ Thư), nhà yêu nước, nhà giáo, nhà thơ.
  • Ðinh nguyên Hoàng giáp Ðào Nguyên Phổ (1860 - ?) quê Thượng Phúc (nay thuộc Quỳnh Hoàng, Quỳnh Phụ), nhà sử học, nhà hoạt động chính trị có danh tiếng trong phong trào Ðông Kinh nghĩa thục.
  • Ngô Quang Ðoan (1872 - 1945) quê Trình Phố (nay là xã An Ninh, Tiền Hải), con cả danh nhân Nguyễn Quang Bích, một trong những yếu nhân của phong trào yêu nước ở Bắc kỳ.

Người Thái Bình thời tỉnh Thái Bình[sửa | sửa mã nguồn]

Các yếu nhân hoạt động chính trị trong các phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam đầu thế kỷ 20 (Đông Du, Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội, Việt Nam Quốc dân Đảng, Đảng Cộng sản Đông Dương,...) chống thực dân Pháp: Nguyễn Công Thu (1894 - 1976), Nguyễn Danh Ðới (1905 - 1943), Nguyễn Đức Cảnh (1908 - 1932),...

  • Nguyễn Công Thu (1894 - 1976) quê xã Vũ Trung, Kiến Xương (cháu nội danh nhân Nguyễn Mậu Kiến), một trong những người đầu tiên được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc huấn luyện tại Quảng Châu (Trung Quốc) vào những năm 1925 - 1926, có nhiều đóng góp đưa đón thanh niên yêu nước sang Quảng Châu du học và hình thành tổ chức cộng sản ở Hà Nội.
  • Nguyễn Danh Ðới (1905 - 1943) người xã Vũ Trung (cháu 4 đời danh nhân Nguyễn Mậu Kiến), bí thư kỳ bộ thanh niên đầu tiên ở Bắc Kỳ, tham gia sáng lập Ðảng cộng sản Ðông Dương.
  • Nguyễn Đức Cảnh (1908 - 1932) quê Diêm Ðiền, Thái Thuỵ, tham gia sáng lập Ðảng cộng sản Ðông Dương, sáng lập Công hội đỏ (tiền thân của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam).
  • Vũ Trọng, quê làng Trình Phố (nay thuộc xã An Ninh, Tiền Hải), là bí thư một trong hai chi bộ cộng sản đầu tiên ở Thái Bình.
  • Nguyễn Văn Năng (1902 - 1964) quê làng Thượng Phú (nay thuộc xã Ðông Phong, Ðông Hưng), bí thư tỉnh bộ đầu tiên của Thái Bình.
  • Hoàng Văn Triệu (huyện Đông Hưng) là người đưa công nghiệp về Thái Bình.
  • Hoàng Văn Thái (huyện Tiền Hải, Đại tướng, tổng tham mưu trưởng đầu tiên của quân đội nhân dân Việt Nam, thứ trưởng Bộ Quốc Phòng. Sinh trưởng ở làng An Khang (nay là xã Tây An), là làng ở ngay bên cạnh làng Trình Phố nói trên)
  • Nguyễn Thị Chiên (sinh 1930), nữ anh hùng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam (1952). Quê ở xã Tán Thuật, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam (1948). Gia nhập bộ đội từ 1952. Trong Kháng chiến chống Pháp, xây dựng và chỉ huy đội nữ du kích Tán Thuật (Thái Bình) đánh địch trên đường 39. Khi dẫn đường cho cán bộ, bị địch bắt, tra tấn, bịt mắt, doạ bắn, vẫn nêu cao khí tiết, khiến địch phải trả tự do, trở về tiếp tục chỉ huy đội du kích chiến đấu. Huân chương Quân công hạng ba, huân chương Kháng chiến hạng nhất, huân chương Chiến công hạng nhất.
  • Nguyễn Văn Vực, người làng Kênh Son, xã Minh Hưng, Kiến Xương, Thái Bình: Tham gia thanh niên Cách mạng đồng chí Hội, Bí thư tỉnh ủy Thái Bình, tổng biên tập đầu tiên của báo Thái Bình (báo Tiến Lên). Bị Pháp bắt đi tù ở các nhà tù Nam Định, Sơn La, Côn Đảo.Sau Cách mạng tháng Tám thành công, ông được Đảng cử ở lại miền Nam hoạt động, giữ các chức vụ sau: Bí thư tỉnh ủy Sóc Trăng, quyền Bí thư khu ủy khu Tám, Bí thư Nông hội Nam Bộ. Ông hy sinh năm 1952.
  • Nguyễn Khang,người xã Minh Hưng, Kiến Xương, Thái Bình. Ông là người phụ trách tổng khởi nghĩa tại Hà Nội. Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính liên khu I; Uỷ viên Trung ương Đảng tại Đại hội II của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1951; Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc, Mông Cổ. Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Phủ Thủ tướng và Chánh Văn phòng Trung ương Đảng.
  • Lại Ngọc Cang (nhà nghiên cứu văn học, đặc biệt là văn học Hán Nôm, như Truyện Kiều, Hoa tiên..., ông tự vẫn)
  • Nguyễn Hữu Đang sinh ngày 15 tháng 8 năm 1913 trong một gia đình trí thức tại làng Trà Vi, xã Vũ Công, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bìnhlà một nhà báo, một trong những người sáng lập nên Hội truyền Bá Quốc ngữ, là thứ trưởng Bộ Thanh Niên và là người chỉ huy dựng Lễ đài Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, nơi Hồ Chí Minh và Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra mắt quốc dân.
  • Tạ Quốc Luật Anh hùng LLVTND, quê thôn Quang Lang, xã Thụy Hải, huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình. Đại đội trưởng thuộc đại đoàn 312. Người giương cao ngon cờ trên nóc hầm Đờ Cát trong chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử.
  • Vũ Ngọc Nhạ (sinh 30 tháng 3 năm 1928 tại xã Vũ Hội, huyện Vũ Thư - Một trong 4 nhà tình báo nổi tiếng Việt Nam)
  • Nguyễn Ngọc Trìu quê quán xã Tây Giang huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình.Ông nguyên là Chủ tịch, Bí thư Tỉnh ủy Thái Bình (thời kỳ 5 tấn thóc); nguyên Phó Thủ tướng, - Bộ trưởng Nông nghiệp (Thời kỳ Khoán sản nông nghiệp). Chủ tịch trung ương hội làm vuườn việt Nam.
  • Nguyễn Đức Tâm (tên khai sinh Nguyễn Đức Kiêm) (1920 - 2010) quê quán xã Thượng Hiền, Kiến Xương, Thái Bình; nguyên ủy viên Bộ Chính trị, bí thư Trung ương Đảng khóa V, VI; nguyên trưởng Ban Tổ chức Trung ương Đảng.
  • Trần Độ tên thật Tạ Ngọc Phách (23 tháng 9, 1923 – 9 tháng 8, 2002), quê huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Là nhà quân sự và chính trị Việt Nam, Trung tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam các khóa 3 (dự khuyết từ năm 1960 đến năm 1972), 4, 5, 6 (1960-1991),Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Phó chủ tịch Quốc hội, Trưởng ban Tuyên giáo, nhà văn, nhà hoạt động dân chủ.
  • Phạm Tuân (huyện Kiến Xương, Anh hùng, người Việt Nam đầu tiên bay vào vũ trụ, và có công đầu trong việc hạ máy bay B52 của Mĩ. Cựu học sinh trường cấp ba Tây Tiền Hải)
  • Đặng Kim Giang (1910-1983) quê tại xã Minh Hưng, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Thiếu tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên là Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần Quân đội Nhân dân Việt Nam. Là chủ nhiệm cung cấp, một trong bốn thành viên của Bộ chỉ huy và Đảng ủy Mặt trận Điện Biên. Chịu trách nhiệm đảm bảo quân lương, súng đạn cho chiến dịch Điện Biên Phủ, Thứ trưởng Bộ Nông trường.
  • Tạ Minh Sơn sinh 10/12/1945 quê quán huyện Thái Thụy, Thái Bình. Ông là phó giáo sư, tiến sĩ. nguyên là viện trưởng Viện KHKT Nông nghiệp Việt Nam.
  • Hoàng Trung Hải Quê quán: xã Quỳnh Giao, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Phó Thủ tướng Chính phủ. Ông Hoàng Trung Hải từng kinh qua các chức vụ Ủy viên Hội đồng Quản trị, Trưởng ban Ban Kiểm soát, Tổng Giám đốc Tổng Công ty Điện lực Việt Nam; Thứ trưởng Bộ Công nghiệp. Ông Hải là Ủy viên T.Ư Đảng khoá IX và X, Bộ trưởng Công nghiệp. Khi còn là Bộ trưởng ông cũng là Bộ trưởng trẻ nhất của Việt Nam lúc 42 tuổi. Ngày 2 tháng 8 năm 2007, ông được bổ nhiệm Phó Thủ tướng Chính phủ. Ông là người trẻ nhất trong các Phó Thủ tướng đương nhiệm. Hiện nay, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải phụ trách về lĩnh vực kinh tế ngành của Chính phủ.
  • Phạm Quý NgọSinh ngày 24 tháng 12 năm 1954; Quê quán: xã Đông Cường, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, nguyên Giám đốc Công an tỉnh Thái bình. Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Trung tướng, Ủy viên Đảng ủy Công an Trung ương, Thủ trưởng cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an, Thứ trưởng Bộ Công an Việt Nam.
  • Vua Bếp Nghệ Nhân Đinh Bá Châu (Thái Thuỵ - Thái Bình)ông là người được ví là vua bếp của Việt Nam
  • Vũ Văn Tiền quê Tiền Hải, Thái Bình được cho là một trong những người giàu nhất Việt Nam hiện nay, ông là Chủ tịch HĐQT Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình, Tổng Giám đốc Cty XNK thương mại GELEXIMCO
  • Vũ Quang Hội, ông cũng được cho là một trong những người giàu nhất Việt Nam hiện nay, Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty TNHH Sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu Bình Minh Bitexco, chủ các toà nhà The Manor, The Garden, Tòa nhà Financial Tower...
  • Thích Quảng Độ (sinh ngày 27 tháng 11 năm 1928) xã Vũ Đoài, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.là Tăng thống của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất từ ngày 17 tháng 8 năm 2008[1]
  • Đào Đình Luyện (1929-1999), quê ở Xã Quỳnh Hội,huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình, là thượng tướng, tư lệnh không quân đầu tiên của Việt Nam, nguyên thứ trưởng bộ quốc phòng, Tổng tham mưu trưởng quân đội nhân dân Việt Nam.
  • Nguyễn Văn Thái là trung tướng, nguyên Phó Giám đốc chính trị Học viện Lục quân Đà Lạt, nguyên Cục trưởng Cục Tư tưởng – Văn hóa Tổng cục Chính trị.
  • Ngô Duy Đông nguyên bí thư tỉnh Thái Bình.nguyên Ủy viên Ủy ban Nông nghiệp TW.
  • Chu Văn Rỵ sinh ngày 25 tháng 10 năm 1940. quê Xã An Ninh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.Là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương khóa VII, VIII.nguyên Bí thư Tỉnh ủy Thái Bình.
  • Cao Sĩ Kiêm sinh ngày 26 tháng 8 năm 1941 tại thôn Nam Long, xã Tự Tân, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.Ông là tiến sĩ kinh tế, nguyên bí thư tỉnh Thái Bình, thống đốc ngân hàng nhà nước việt nam, chủ tịch hội doanh nghiệp vừa và nhỏ việt nam. Thành viên hội đồng tư vấn chính sách tài chính tiền tệ quốc gia.
  • Nguyễn Văn Hiện sinh ngày 19 tháng 9 năm 1954. quê xã Phúc Khánh huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình. ủy viên ban chấp hành trung ương đảng cộng sản việt nam.phó chủ tịch hội luật gia việt nam.chủ nhiệm ủy ban tư pháp quốc hội
  • Nguyễn Đức Thuấn quê Thái Bình là Chủ tịch HĐQT Công ty CP Giày Thái Bình, Chủ tịch Hiệp hội Da - Giày Việt Nam (LEFASO), Ủy viên Hội đồng tư vấn cải cách Thủ Tục Hành Chính.
  • Hoàng Bình Quân quê xã Tự Tân huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình ủy viên trung ương đảng.Trưởng ban đối ngoại trung ương.
  • Vũ Tiến Lộc sinh ngày 1 tháng 9 năm 1959. quê xã Thụy Phong huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình.Bí thư đảng đoàn.chủ tịch phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam.Ủy viên ủy ban Ban kinh tế ngân sách Quốc Hội, ủy viên đoàn chủ tịch ủy ban trung ương Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam.Chủ tịch Hội đồng các Doanh nghiệp Việt Nam.
  • Đỗ Kim Tuyến sinh năm 1958.quê xã Tán Thuật huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình.ông là là Tiến sỹ Luật, Thiếu tướng, Phó Tổng Cục trưởng Tổng Cục Cảnh sát Phòng chống tội phạm Bộ Công an và là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam. Ông cũng vừa trúng cử Đại biểu Quốc hội khóa 13 (2011-2016) tại khu vực bầu cử số 2, thành phố Hà Nội.
  • Bùi Quang Thận (1948- 2012) quê xã Thụy Xuân, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. là người lính Giải phóng quân miền Nam đầu tiên cắm lá cờ chiến thắng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam trên nóc dinh Độc Lập vào lúc 11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975.
  • Bùi Sĩ Tiếu. nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bí thư tỉnh ủy tỉnh Thái Bình, nguyên Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, Phó chủ tịch Hội Làm Vườn Việt Nam.
  • Nguyễn Duy Việt Phó trưởng Ban dân vận trung ương.
  • Hà Mạnh Trí sinh năm 1942. quê Xã Đông Thọ, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Nguyên ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam. nguyên Viện trưởng Viện kiểm soát nhân dân tối cao.
  • Nguyễn Minh Hiển sinh ngày 1 tháng 2 năm 1948; Quê quán: Xã Quang Trung, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Là phó giáo sư, tiến sĩ. nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VIII, IX; nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam, nguyên hiệu trưởng Đại học Bách khoa Hà Nội.
  • Trần Quốc Vượng sinh năm 1953. quê xã An Ninh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. nguyên là Uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Ban cán sự, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.Chánh văn phòng Trung ương Đảng.
  • Nguyễn Hạnh Phúc sinh ngày 12 tháng 5 năm 1959. quê Phường Đề Thám, TP.Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Thái Bình. Là đại biểu Quốc hội khoá 12, 13. Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội. Trưởng đoàn thư kí quốc hội 13.
  • Nguyễn Quân 56 tuổi, quê Thái Bình. Là Tiến sĩ, ủy viên ban chấp hành trung ương đảng. Bộ trưởng bộ Khoa học và công nghệ.
  • Nghệ sĩ Nhân dânThu Hiền sinh ngày 3 tháng 5 năm 1952 tại Đông Hưng, Thái Bình. Bà tên thật Nguyễn Thị Thanh Hiền. Là Nghệ sĩ Ưu tú,Nghệ sĩ Nhân dân là một ca sĩ Việt Nam nổi tiếng với những ca khúc cách mạng, trữ tình, dân ca Bắc Bộ.Giám đốc Nhà hát ca múa nhạc Việt Nam.
  • Hoàng Văn Thái quê Tây An, huyện Tiền Hải, Đại tướng, nguyên Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt nam
  • Trần Văn Hiếu - Thứ trưởng Bộ Tài Chính - Nguyên quán Dũng Nghĩa - Vũ Thư - Thái Bình, hiện đang công tác tại Bộ tài chính và giữ chức vụ thứ trưởng bộ tài chính.

Đinh van Tuy- Trung tuong, quê xã Chí Hòa, huyện Hưng hà, Thái bình. Nguyên Tư lệnh trưởng Bộ tư lệnh biên phòng

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]