Những vụ tấn công của lực lượng biệt động Quân Giải phóng Miền Nam trong chiến tranh Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam, Những vụ tấn công vào đô thị Miền Nam trong chiến tranh Việt Nam chủ yếu được thực hiện bởi các lực lượng đặc công và du kích của Quân giải phóng Miền Nam ở các căn cứ vùng ngoại ô, phối hợp với các đơn vị biệt động thành hoạt động bí mật trong thành phố, hoặc các tổ chức ngoại vi của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (MTDTGP) chủ yếu gây bất ổn tại miền Nam và nhằm vào các mục tiêu quân sự như trại lính, kho tàng, tàu chở trang thiết bị quân sự; mục tiêu hậu cần như kho tàng, tàu tiếp tế, chung cư sĩ quan và mục tiêu dân sự như nhà hát, khách sạn, cầu cống, đường xe lửa, trường học, sân vận động... Cách thức tấn công đa dạng gồm có đặt mìn, thuốc nổ, đặt bom xe, pháo kích, cối kích, bắn hỏa tiễn, phục kích và kể cả tiến công bằng bộ binh. Đánh bom cảm tử rất hiếm khi xảy ra và nếu có cũng là ngoài kế hoạch ban đầu của người đặt bom (tuy nhiên cuộc tấn công vào Đại sứ quán Hoa Kỳ năm 1968 cũng có thể coi là một cuộc tấn công cảm tử).

Chiến thuật tấn công và phương pháp thực hiên được kế thừa từ chiến thuật của lực lượng biệt động thành trong cuộc chiến tranh trước đó với người Pháp (như vụ đánh bom rạp hát Majestic)[cần dẫn nguồn]. Đường rầy xe lửa thường xuyên bị Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đặt chất nổ và hàng trăm vụ nổ làm lật các toa xe lửa khiến cho hệ thống đường xe lửa từ Bắc vào Nam do Pháp xây dựng chỉ sử dụng được từ Sài Gòn đến Long Khánh [1]. Có ba cách đánh tiêu biểu của biệt động Sài Gòn là nổ chậm, cường tập và pháo kích [2]. Đến 1965, lực lượng biệt động tập trung của quân khu Sài Gòn - Gia Định được thành lập gọi là F100, gồm 13 đội [2].

Bên cạnh những vụ tấn công vào các căn cứu quân sự, có những vụ tấn công vào các cơ sở dân sự nhằm mục đích tiêu diệt đội ngũ sĩ quan đối phương nhưng cũng gián tiếp gây thương vong cho dân chúng ở gần đó, nếu xét trên tiêu chuẩn hiện đại có thể bị xếp loại là hành động khủng bố [3][4]. Tuy nhiên, phía Mặt trận Dân tộc Giải phóng khẳng định rằng mục tiêu của họ luôn là binh lính sĩ quan đối phương, thương vong của thường dân là ngoài ý muốn của họ.

Trong chiến tranh, truyền thông nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam nói chung đều nêu những cuộc tấn công trên là rất cần thiết để góp phần vào sự nghiệp chống xâm lăng và thống nhất đất nước. Đến nay, một số vụ tấn công vẫn được nhà nước CHXHCN Việt Nam ca ngợi như những huyền thoại của cuộc chiến[2].

Năm 1960[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tháng 12, Câu lạc bộ Gôn Sài Gòn bị đánh bom, phía MTDTGP nói đã "tiêu diệt hàng loạt cố vấn Mỹ và chư hầu" [5]

Năm 1962[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ngày 20 tháng 5, bom nổ tại khách sạn Hưng Đạo làm bị thương 8 người Việt và 3 người Mỹ.[6]
  • Ngày 26 tháng 10, dưới sự chỉ huy của Lê Thanh Tùng, nữ biệt động Lê Thị Thu Nguyệt cùng các đồng chí Cưỡng, Tùng, Quang trực thuộc Đội Biệt động 159 dùng lựu đạn làm nổ tung khu vực triển lãm quân sự tại Công trường Lam Sơn tại Sài Gòn, phá hủy chiếc trực thăng UH1A đang được trưng bày và làm chết một số cảnh sát và một sĩ quan Việt Nam Cộng hòa.[7].

Năm 1963[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ngày 2 tháng 5, Nguyễn Văn Trỗi đặt bom trên cầu Công Lý, dự định ám sát Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ McNamara cùng đoàn tùy tùng nhưng không thành. Nguyễn Văn Trỗi bị xử tử vào năm 1964.
  • Ngày 25 tháng 3, cơ sở nội tuyến của Đội biệt động 159 (do Mười Luân, bí số 8E, và Lê Thị Thu Nguyệt, đóng vai người yêu của Mười Luân) đã gắn một quả mìn hẹn giờ vào chiếc máy bay Boeing 707 chở 80 cố vấn Mỹ từ Sài Gòn bay đến Mỹ. Chiếc máy bay vừa đáp xuống phi trường Honolulu thì mìn phát nổ nhưng không làm ai bị thương vong vì tất cả hành khách đã di chuyển vào nhà ga sân bay. Nguyên nhân mìn phát nổ chậm là do áp suất trên cao làm đồng hồ hẹn giờ của quả mìn thay đổi [7].

Năm 1964[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ngày 9 tháng 2, Khán đài một sân vận động dã cầu bị gài bom khiến 2 sĩ quan Mỹ thiệt mạng và 41 người khác bị thương [6].
  • Ngày 16 tháng 2, rạp hát Kinh Đô bị đánh bom làm 3 người Mỹ chết và hơn 32 người bị thương. Phía MTDTGP nói có hơn 150 lính Mỹ thiệt mạng trong vụ này [6][8]
  • Ngày 2 tháng 5, chiến hạm USS Card neo đậu ở cảng Sài Gòn bị người nhái đặt mìn làm bị chìm, nhiều máy bay trực thăng cùng khí tài quân sự bị phá hủy. Phía Mỹ nói có 5 thủy thủ thiệt mạng [6]. MTDTGPMN tuyên bố 55 lính Mỹ chết và bị thương [8]
  • Ngày 18 tháng 6, MTDTGP tấn công một đoàn hộ vệ quân đội gần Bến Cát, Bắc Sài Gòn[9].
  • Ngày 25 tháng 8, khách sạn Caravelle bị đặt bom làm sập nhiều tầng. Phía MTDTGP nói có hơn 100 người bị chết và bị thương [8]
  • Ngày 31 tháng 10, sân bay Biên Hòa bị pháo kích làm hư hại 19 máy bay, trong đó có 5 chiếc B-57 Canberra bị hư hại nặng. 5 lính Mỹ chết và 76 người khác bị thương [8]
  • Ngày 24 tháng 12, cư xá Brinks ở Sài Gòn là nơi ở của hơn 125 sĩ quan Mỹ và dân thường bị đánh bom bởi một thành viên MTDTGPMN đóng giả làm sĩ quan Việt Nam Cộng hòa. Bom được đưa vào garage của cư xá và cho phát nổ làm sập 3 tầng của tòa nhà, giết 66 người trong đó có 2 sĩ quan Mỹ và làm hơn 100 người khác bị thương [8][10]. Sự kiện này do các biệt động thành là Bảy B (Nguyễn Thanh Xuân), Nguyễn Hóa, Nguyễn Nông, Nguyễn Thông thực hiện[2].

Năm 1965[sửa | sửa mã nguồn]

Đánh bom tại Sài Gòn năm 1965
  • Ngày 7 tháng 2, căn cứ quân sự Mỹ tại Pleiku bị tấn công làm 8 lính Mỹ thiệt mạng, 104 lính Mỹ bị thương. Sự kiện này được tổng thống Johnson lấy lý do để leo thang ném bom miền Bắc trong chiến dịch Sấm Rền [11].
  • Ngày 10 tháng 2, trại tuyển quân ở Quy Nhơn bị tấn công giết chết 23 lính Mỹ.
  • Ngày 30 tháng 3, 3 thành viên của MTDTGPMN, trong đó có Bảy Bê (một biệt động nổi tiếng) phối hợp đánh bom Tòa Sứ quán Mỹ tại đường Hàm Nghi. 22 người trong đó có 19 người Việt, 2 nhân viên Mỹ và một người Philippin bị thiệt mạng, 83 người khác bị thương, trong đó có phó đại sứ Mỹ A. Johnson[6]. Phía MTDTGP tuyên bố đã thiêu rụi 30 xe ô tô, làm 100 nhân viên Mỹ chết và bị thương [2]. Các biệt động tham gia là Tư Việt, Bảy B và Thế, trinh sát bộ binh. Người trinh sát cho trận đánh là Năm Nông, Minh Nguyệt [2].
  • Ngày 25 tháng 6, nhà hàng nổi Mỹ Cảnh trên sông Sài Gòn bị đặt bom làm hơn 40 người thiệt mạng, trong đó có 9 người Mỹ và làm hơn 50 thường dân bị thương [12].
  • Ngày 18 tháng 8, Tổng Nha Cảnh sát bị đánh bom làm 6 người chết và 15 người bị thương [6].
  • Ngày 4 tháng 10, Sân vận động Cộng Hòa bị đặt bom làm 11 người thiệt mạng, 42 thường dân khác bị thương. Phía MTDTGP tuyên bố diệt và làm bị thương 49 lính VNCH [6]
  • Ngày 4 tháng 12, khách sạn Metropol bị đánh bom làm nhiều xe cộ bị phá hủy. Không rõ số thương vong.[6].
  • Ngày 30 tháng 12, ký giả Từ Chung của tờ Chính Luận bị đội biệt động 67 ám sát khi về nhà ăn trưa. Trước đó ký giả này đã đăng tải những lời đe dọa mà ông ta đã nhận được từ phía MTDTGP [6][13].

Năm 1966[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ngày 7 tháng 1, một quả mìn Claymore phát nổ tại cổng sân bay Tân Sơn Nhứt làm 2 người chết.[14]
  • Ngày 13 tháng 4, sân bay Tân Sơn Nhứt bị tấn công. Có 140 nhân viên quân sự bị thương vong, hơn 21 máy bay bị phá hủy.
  • Ngày 23 tháng 8, tàu USS Baton Rouge Victory bị đặt mìn trên sông Lòng Tàu làm chết 7 lính Mỹ[15].
  • Ngày 4 tháng 12, một đơn vị MTDTGP phá thủng chu vi phòng thủ 20,8 cây số xung quanh Căn cứ Không quân Tân Sơn Nhứt và pháo kích khu vực trong 4 giờ. Lực lượng bảo vệ Mỹ và VNCH sau đó đã đẩy lui những người tấn công, giết chết 18 quân MTDTGP. Một máy bay trinh sát 101 của Mỹ bị hư hại nặng. Quân du kích quay lại trong đêm cùng ngày, nhưng lực lượng bảo vệ lần nữa đẩy lui quân du kích, giết thêm 11 quân MTDTGP trong trận thứ nhì.

Năm 1967[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ngày 5 tháng 12, du kích Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tấn công vào làng người Thượng Đắk Sơn. Theo Hoa Kỳ tuyên bố, ngôi làng đã bị phóng hoả làm 252 người chết.[16]

Năm 1968[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ngày 2 tháng 3, một cuộc phục kích diễn ra gần sân bay Tân Sơn Nhứt làm 48 lính Mỹ chết [1][17]

Trận Mậu Thân[sửa | sửa mã nguồn]

Rạng ngày 30 tháng 1 năm 1968, các du kích thuộc MTDTGP cùng quân chính quy Quân đội Nhân dân Việt Nam và các lực lượng tại chỗ đã đồng loạt tấn công các khu đô thị cùng các căn cứ quân sự tại Nam Việt Nam. Chiến sự dai dẳng kéo dài nhiều tuần sau đó.

Sài Gòn là một trong những nơi bị tấn công đầu tiên vào các mục tiêu quan trọng: Hơn 35 đơn vị đã tập kích Sân bay Tân Sơn Nhứt, Dinh Tổng thống, Đại sứ quán Mỹ, Đài phát thanh Sài Gòn, Bộ tổng Tham mưu. Các căn cứ như Long Bình, Phù Đổng, Cổ Loa, Hạnh Thông Tây, Đồng Dù (Củ Chi) cũng bị tấn công. Riêng các mục tiêu như Trụ sở cơ quan viện trợ MACV, Bộ tư lệnh hải quân, kho xăng Nhà Bè, Tổng nha Cảnh sát không thực hiện được.

Tòa đại sứ quán Mỹ bị tấn công và chiếm đóng gần nửa ngày mới bị thất thủ. Trong 18 du kích biệt động tại đây, chỉ có một người sống sót nhưng đã tiêu diệt và làm bị thương hơn 150 quân đối phương.

Tại phi trường Tân Sơn Nhứt có 181 du kích MTDTGP thuộc tiểu đoàn 16 đã bị thương vong trong trận tấn công vào sân bay.

Tại Chợ Lớn, chiến sự ác liệt diễn ra làm nhiều nhà dân bị hư hại nghiêm trọng.

  • Ngày 5 tháng 5, MTDTGPMN tiến hành Mậu Thân đợt 2 nhưng bị đánh lui.[1]

Năm 1969[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tháng 2, MTDTGPMN tiến hành tổng tấn công tương tự Mậu Thân nhưng với cường độ yếu hơn.

Năm 1971[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1972[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ngày 2 Tháng 8, kho xăng ở Đà Nẵng bị biệt động thành Đà Nẵng đặt bom phá hủy số lượng lớn xăng dầu. Sân bay Đà Nẵng bị pháo kích, 4 máy bay bị hư hại, 1 lính Mỹ chết và 20 bị thương[19]
  • Ngày 10 Tháng 9, sân bay Đà Nẵng bị đặc công tấn công. 1/4 căn cứ bị phá hủy, các đám cháy kéo dài tới ngày. 3 máy bay bị phá hủy và 95 chiếc khác bị phá hỏng (chiếm 3/4 số máy bay tại căn cứ). Nhiều lính và phi công Mỹ chết, hơn 50 bị thương chưa kể tổn thất của không quân VNCH. 6 đặc công quân Giải phóng tử trận[20]

Năm 1973[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ngày 3 tháng 12, Đặc công rừng Sác tấn công kho xăng Nhà Bè, kho xăng bị cháy suốt 10 ngày đêm, thiêu huỷ hàng triệu lít xăng [1]

Năm 1974[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ngày 9 tháng 3, trường tiểu học Cai Lậy (Tiền Giang) bị nã súng cối 82 ly. Theo tuyên bố của tướng Lâm Quang Thi, vụ tấn công này đã làm 34 học sinh bị chết và hơn 70 người khác bị thương[21], còn theo Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ thì có 32 học sinh chết và 55 bị thương[22]. Tuy nhiên, phía MTDTGPMN phủ nhận họ là thủ phạm trong vụ này, còn các phóng viên quốc tế tỏ ý nghi ngờ tính xác thực của vụ việc vì họ không được chính quyền VNCH cho phép tới hiện trường để điều tra.

Năm 1975[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trận cầu Rạch Chiếc có sự tham gia của hàng trăm lính đặc công, là một trong những trận đánh cuối cùng của cuộc chiến. Lực lượng biệt động còn dẫn đường cho xe tăng quân Giải phóng tiến vào những mục tiêu quan trọng ở Sài Gòn.

Các vụ tấn công ngoài lãnh thổ Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Quân Giải phóng đã nhiều lần tổ chức tấn công vào các căn cứ, sân bay của Mỹ tại Thái Lan. Dưới đây là một số vụ đã được tài liệu Mỹ công bố:

Căn cứ Udorn, đông bắc Thái Lan[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 26/7/1968, khoảng 22h25, một tốp đặc công sử dụng súng tự động bắn chế áp lính canh và các tram gác bảo vệ sân bay, trong khi một tốp khác xông tới bắn vào chiếc máy bay C-141 đang lăn bánh ra đường băng và ném bộc phá trúng vào động cơ máy bay, chiếc máy bay bùng cháy. Sau đó, đội đặc công này chạy tới cụm nhà ga và phá hủy một máy bay F-4 và rút lui. Một chiếc HH-43 cất cánh yểm trợ cho đội bảo vệ sân bay, cũng bị đặc công bắn hỏng nhẹ. Một số phương tiện kỹ thuật cũng bị phá hủy, một đặc công quân Giải phóng tử trận.

Căn cứ Ubon, miền Tây Thái Lan[sửa | sửa mã nguồn]

Có tổng cộng 3 trận đánh tại đây:

  • Trận đầu tiên vào ngày 28/7/1969, lúc 1h30 rạng sáng, 3 đặc công bắn hạ 2 lính bảo vệ sân bay và một chó nghiệp vụ đang tuần tra và đánh cháy 2 máy bay C-47 và một xe ca, hệ thống nhìn đêm cũng bị vô hiệu hóa.
  • Trận thứ 2 tại Ubon vào ngày 11/1/1970, một tốp đặc công tấn công vào nhà ga sân bay và chạm súng với lính canh. Sau vụ đấu súng, 5 đặc công tử trận, cuộc tấn công này coi như thất bại. Không rõ thương vong của lính canh.
  • Trận cuối cùng tấn công vào Uborn, ngày 1/6/1972, 2 đặc công hy sinh, 2 lính canh bảo vệ sân bay bị hạ, không có thiệt hại về máy bay.

Sân bay Utapao, nơi đặt căn cứ B-52[sửa | sửa mã nguồn]

Trận đánh diễn ra trong khi Mỹ đang chuẩn bị tiến hành chiến dịch Linebacker II, sân bay này được coi là được bảo vệ ở cấp độ cao nhất ở Thái Lan. Ngày 10 tháng 1, 6 lính đặc công đột nhập và gài thuốc nổ vào các máy bay Mỹ thì bị phát hiện nên buộc phải rút lui. 3 khối bộc phá phát nổ và đánh hỏng nhẹ 3 chiếc B-52, phía Việt Nam có 1 đặc công hy sinh.

Ngày 10 tháng 12, lúc 2 giờ 22 phút sáng, 3 lính đặc công xuất hiện và bắn chế áp lính canh, một người quăng 1 trái lựu đạn cùng 4 bộc phá vào động cơ 3 chiếc máy bay B-52 và đánh hỏng 3 chiếc máy bay này. Nhiều lính Thái Lan bị hạ, phía Việt Nam không có thiệt hại.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b *Trang web Thành phố Hồ Chí Minh, Niên biểu 300 năm
  2. ^ a ă â b c d Gặp người chỉ huy biệt động Sài Gòn năm xưa
  3. ^ Insurgent Terrorism and Its Use by the Viet Cong, LaCharite, Norman A., AMERICAN UNIV WASHINGTON DC CENTER FORRESEARCH IN SOCIAL SYSTEMS, JUL 1969, Available online
  4. ^ 1994 United Nations Declaration on Measures to Eliminate International Terrorism annex to UN General Assembly resolution 49/60,"Measures to Eliminate International Terrorism", of December 9, 1994, UN Doc. A/Res/60/49
  5. ^ Lê Tấn Quốc - Suốt đời kiên trung với lý tưởng, Thành Đoàn TP HCM
  6. ^ a ă â b c d đ e ê The Mariah Project - A Study of the Use of Terror by the Viet Cong - May 1, 1966 Available online
  7. ^ a ă Kỳ tích biệt động của người phụ nữ bình dị Báo CAND Điện tử, 23/11/2005
  8. ^ a ă â b c Thanh niên miền Nam tham gia đấu tranh bảo vệ hòa bình, đánh bại "Chiến lược chiến tranh Đặc biệt" của Đế quốc Mỹ
  9. ^ Villagers witness preparations for Viet Cong attack on Ben Cat military garrison and do not notify garrison because of intimidation by the Viet Cong, Declassified CIA Documents on the Vietnam War, April 1, 1976
  10. ^ Photograph of the Destruction After a Terrorist Bomb Exploded Underneath the Brinks Hotel in Saigon
  11. ^ The Oxford Essential Dictionary of the U.S. Military - Battle of Pleiku
  12. ^ Official report on explosion of floating restaurant in Saigon, Declassified CIA Documents on the Vietnam War, 25 tháng 6 năm 1965
  13. ^ The Graves of Hue - January 1, 1970 Available online
  14. ^ Douglas Pike, Viet Cong. The organization and techniques of the National Liberation Front of South Vietnam, Massachusetts Institute of Technology, 1966, available online
  15. ^ U.S. Merchant Marine, Military Sea Transportation Service, and Military Sealift Command in Vietnam
  16. ^ “On the Other Side: Terror as Policy”. Time. 5 tháng 12 năm 1969. 
    “The Massacre of Dak Son”. Time. 15 tháng 12 năm 1967.  here.
  17. ^ The Jungle War
  18. ^ "Bí mật điệp báo chưa từng công bố: đốt cháy con bài của Mỹ" của Nam Thi, báo Thanh Niên số ra ngày thứ Ba 02/05/2000 số 78/1701
  19. ^ http://www.366fightergroupassoc.org/Attacks.htm
  20. ^ http://www.vspa.com/bh-huff-1972.htm
  21. ^ Lâm Quang Thi, The Death Of South Viet Nam: An Autopsy, Sphinx Publishing, Phoenix, AZ, 1986, tr. 3, 197
  22. ^ THE DEPARTMENT OF STATE BULLETIN, Volume LXX, No. 1814, April 1, 1974

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]