Danh xưng hoàng gia và quý tộc Thái Lan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Tên người Thái Lan có địa vị chính trị thường bao gồm phần danh xưng và tước hiệu. Các địa vị khác nhau sẽ có danh xưng và tước hiệu khác nhau.

Vua[sửa | sửa mã nguồn]

Các vua của Thái Lan thường có hai danh xứng chính sau:

  • Phrabat Somdej Phra Chao Yu Hua (tiếng Thái: พระบาทสมเด็จพระเจ้าอยู่หัว). Danh xưng này dùng khi vị vua đã làm lễ đăng quang.
  • Somdej Phra Chao Yu Hua (สมเด็จพระเจ้าอยู่หัว). Danh xưng này được dùng tạm thời khi vị vua chưa làm lễ đăng quang.

Ngoài ra, còn có các danh xưng khác dành cho vua nhưng nay không còn được áp dụng. Chẳng hạn như:

  • Phra Rama (พระราม) mà Rama III từng dùng và có giả thuyết rằng cách người phương Tây gọi vua Xiêm là Rama bắt nguồn từ danh xưng này.
  • Phra Ratchakan (Ratchakan (รัชกาล) nghĩa là người cai trị và Phra (พระ) dùng để tăng thêm sự tôn kính thành Đấng cai trị). Sau danh xưng Phra Ratchankan có thể thêm con số để thể hiện thế hệ đấng cai trị thứ bao nhiêu. Như Rama VI được gọi là Phra Ratchakan Hok (Hok là 6).
  • Baramin (ปรมินทร์) hoặc Baramen (ปรเมนทร์). Là danh xưng do vua tự xưng hoặc dùng khi ký, đặt sau tên của vua. Các Rama II, IV, VI, VIII dùng danh xưng Baramen. Các Rama I, III, V, VII, IX dùng danh xưng Baramin.
  • Somdej Phra (สมเด็จพระ) là danh xưng để gọi các vua nước ngoài hoặc vua triều trước (trước triều Chakri).
  • Somdej Chakrabat Phra (สมเด็จจักรพรรดิ์พระ) là danh xưng để gọi Nhật hoàng, vua Trung Hoa, v.v...

Vợ vua[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Các hoàng hậu Thái Lan có danh xưng là:

  • Somdej Phra Boromarajininat. Đây là danh xưng cao nhất.
  • Somdej Phra Boromarajini
  • Somdej Phra Rajini. Đây là danh xưng cho hoàng hậu khi vua chưa làm lễ đăng quang.

Hoàng phi[sửa | sửa mã nguồn]

Nếu hoàng phi xuất thân là công chúa, thì xếp theo mức độ cao quý giảm dần sẽ có các danh xưng là:

  • Somdej Phra Boromarajathevi (สมเด็จพระบรมราชเทวี). Đây là danh xưng cao quý nhất. Trước thời vua Chulalongkorn, danh xưng này chỉ áp dụng cho hoàng hậu.
  • Phra Nangchao Phra Rajathevi (พระนางเจ้า...พระราชเทวี) hoặc Phra Nangchao Phra Akra Rajathevi (พระนางเจ้า...พระอัครราชเทวี)
  • Phra Nang Ther (พระนางเธอ)
  • Phra Akra Chaya Ther (พระอัครชายาเธอ)
  • Phra Racha Chaya (พระราชชายา)

Nếu hoàng phi xuất thân là con nhà quý tộc bậc thấp hay thường dân, thì có danh xưng là Chao Chom (เจ้าจอม) hoặc Chao Chom Manda (เจ้าจอมมารดา) nếu sinh được con cho vua.

Hoàng tử/Công chúa[sửa | sửa mã nguồn]

Nếu hoàng tử và công chúa có mẹ cũng là công chúa thì được nhận danh xưng là Chao Pha. Trong đó, những hoàng tử và công chúa do vua và hoàng hậu sinh ra thì được gọi là Chao Pha Chan Aeg (เจ้าฟ้าชั้นเอก). Những hoàng tử và công chúa do vua và phi tần sinh ra được gọi là Chao Pha Chan Tho (เจ้าฟ้าชั้นโท). Những hoàng tử và công chúa khác ở nhóm này được gọi là Chao Pha Chan Tri (เจ้าฟ้าชั้นตรี).

Nếu hoàng tử và công chúa do vua và phi tần xuất thân từ tầng lớp quý tộc thấp hoặc bình dân sinh ra thì được gọi là Phra Ong Chao. Các cháu nội của vua do các Chao Pha với công chúa sinh ra cũng được danh xưng là Phra Ong Chao.

Các cháu nội của vua do các Chao Pha với phụ nữ xuất thân bình dân sinh ra thì gọi là Mom Chao nếu là hoàng tử và Mom Chao Ying nếu là công chúa. Con của các công chúa cấp Pha Ong Chao cũng được gọi là Mom Chao hoặc Mom Chao Ying. Đây là danh xưng cho tầng lớp thấp nhất trong hoàng gia.

Con cháu của các Mom Chao không còn được coi là người của hoàng tộc nữa. Nhưng họ vẫn được ban các danh xưng để thể hiện nguồn gốc cáo quý của mình, như:

  • Mom Rajawongse (หม่อมราชวงศ์): danh xưng dành cho con của các Mom Chao.
  • Mom Luang (หม่อมหลวง): danh xưng dành cho con của các Mom Rajawongse nam.

Đến hàng con của các Mom Luang thì không còn danh xưng nữa, nhưng vẫn có thể thêm vào họ của mình chữ "Na Ayudhya" (ณ อยุธยา).

Hoàng tử phi[sửa | sửa mã nguồn]

Vợ của các hoàng tử hàng Chao Pha hoặc Phra Ong Chao thì được nhận danh xưng là Phra Chaya (พระ ชายา). Vợ của các hoàng tử hàng Mom Chao thì được nhận danh xưng là Chaya (ชายา). Để được danh xưng này thì bản thân người phụ nữ cũng phải xuất thân từ tầng lớp quý tộc.

Còn nếu hoàng tử phi là người có xuất thân bình dân thì chỉ được gọi là Mom (หม่อม) kèm với tên chồng.

Các danh xưng cũ cho quý tộc và quan lại[sửa | sửa mã nguồn]

  • Somdej Chao Phraya (สมเด็จเจ้าพระยา) là danh xưng cao nhất cho quan lại. Những người được tước này thường là người có công lớn và trong một vài trường hợp đặc biệt. Trong lịch sử, mới có 4 người có danh xưng này và người đầu tiên trong số đó chính là vua Rama I khi ông còn là bề tôi của vua Taksin.
  • Chao Phraya (เจ้าพระยา) là tước hiệu phổ biến cao nhất cho quan lại. Thường thì chỉ có các đại thần (bộ trưởng) mới được ban tước hiệu này.
  • Phraya (พระยา) là tước hiệu thấp hơn Chao Phraya.
  • Phra (พระ) là tước hiệu thấp hơn Chao Phraya. Tương đương với tước này có Jamuen (จมื่น หรือ พระนาย) nhưng chỉ áp dụng cho người hầu cao nhất của vua.
  • Các tước hiệu thấp nữa hơn lần lượt là Luang (หลวง), Khun (ขุน), Muen (หมื่น), Pan (พัน). Thấp nhất là Nai (นาย).

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Bài này được dịch từ phiên bản tiếng Anh. Tài liệu tham khảo cho phiên bản tiếng Anh đó đến thời điểm ngày 22 tháng 10 năm 2008 như sau.

  • Jones Robert B., 1971, Thai Titles and Ranks, Including a Translation of Royal Lineage in Siam by King Chulalongkorn, Data Paper No. 81. Ithaca: Southeast Asia Program, Department of Asian Studies, Cornell University
  • Finestone Jeffrey, 1989, The Royal Family of Thailand: The Descendants of King Chulalongkorn
  • Rabibhadana M.R. Akin, 1996, The Organization of Thai Society in the Early Bangkok Period 1782 - 1873
  • Foreign Correspondents' Club of Thailand, 2007, The King of Thailand in World Focus

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]