David Livingstone

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
David Livingstone
Sinh 19 tháng 3, 1813(1813-03-19)
Blantyre, South Lanarkshire, Scotland
Mất 01 tháng 5, 1873 (60 tuổi)
Làng của Tù trưởng Chitambo, Đông bắc Rhodesia
Nguyên nhân mất Bệnh sốt rét và xuất huyết nội do bệnh lỵ
Nơi an táng Điện Westminster, Luân Đôn
51°29′58″B 0°07′39″T / 51,499444°B 0,1275°T / 51.499444; -0.1275
Quốc tịch Scotland / Anh
Nổi tiếng vì Thám hiểm châu Phi
Tín ngưỡng Tin Lành
Vợ (hoặc chồng) Mary Livingstone (nhũ danh Moffat)

David Livingstone (19 tháng 3 năm 18131 tháng 5 năm 1873) là bác sĩ y khoa và nhà truyền giáo tiên phong người Tô Cách Lan thuộc Hội Truyền giáo Luân Đôn, cũng là nhà thám hiểm châu Phi. David Livingston được kể tên trong số những anh hùng dân tộc được yêu thích nhất ở Anh dưới triều Victoria vào cuối thế kỷ 19. Ông là một nhân vật huyền thoại, cấu thành bởi những yếu tố: nhà truyền giáo và người tử đạo, người nổi tiếng có xuất thân bần hàn, nhà thám hiểm và khảo sát khoa học, nhà cải cách, người vận động chống chế độ nô lệ. Ông là người châu Âu đầu tiên nhìn thấy thác Victoria.

David Livingstone là nhân vật thứ 98 trong số 100 người Anh vĩ đại nhất thuộc mọi thời đại, theo một cuộc bầu chọn thực hiện bởi BBC trong năm 2002[1]. Có lẽ Livingstone được nhớ đến nhiều nhất do câu hỏi của Henry Morton Stanley khi bất ngờ gặp Livingstone sau một cuộc tìm kiếm cam go, vì lúc ấy mọi người tin rằng Livingstone đã mất tích, "Bác sĩ Livingstone, phải không ạ?".

Danh tiếng của Livingstone như một nhà thám hiểm nung nấu khát vọng khám phá thượng nguồn sông Nile mà cao điểm là thời kỳ người châu Âu đẩy mạnh các cuộc thám hiểm và khám phá nhiều vùng đất mới, cùng lúc với những nỗ lực thâm nhập vào châu Phi. Bên cạnh đó, những chuyến đi truyền giáo, những lần mất tích, và cái chết của ông tại châu Phi; sự kiện ông được tôn vinh năm 1874 (sau khi chết) khơi động tinh thần truyền giáo và giúp hình thành các đề án truyền giáo quan trọng tại châu Phi.[2]

Thiếu thời[sửa | sửa mã nguồn]

Blantyre, nơi sinh trưởng của Livingstone.

David Livingstone sinh ngày 19 tháng 3 năm 1813 tại làng Blantyre, Scotland trong một tòa nhà tập thể cho thuê, cư dân ở đây là công nhân làm việc tại một nhà máy dệt bên bờ sông Clyde dưới chiếc cầu dẫn vào Bothwell.[3] Livingstone là con thứ hai trong số bảy người con của Neil Livingstone (1788-1856) và vợ Agnes (nhũ danh Hunter; 1782-1865). Khi lên mười, cậu bé David và anh, John, phải làm công việc nối chỉ tại máy dệt mười hai giờ mỗi ngày.

Thân phụ của Livingstone là một tín hữu Cơ Đốc mộ đạo, và là giáo viên Trường Chúa Nhật. Làm nghề bán hàng lưu động, Neil thường mang theo mình các "truyền đạo đơn" để phân phát cho khách hàng. Ông đọc nhiều sách viết về các lĩnh vực như thần học, lữ hành, và công cuộc truyền giáo. Tất cả những điều này tác động đến con trai của ông, David say mê đọc sách, một sở thích khác của cậu là lang thang khắp nơi để khảo sát các loại động vật, cây cỏ, cũng như các loại hình địa chất nằm sâu trong các khu mỏ đá vôi quanh vùng. Trong khi Neil, do nỗi e sợ rằng các loại sách khoa học sẽ xói mòn niềm tin Cơ Đốc, cố ép cậu con trai chỉ đọc sách thần học, thì David, đặc biệt thích tìm hiểu về thiên nhiênkhoa học, lại muốn đào sâu về mối quan hệ giữa tôn giáokhoa học.[4] Năm 1832, khi đọc quyển Philosophy of a Future State của Thomas Dick, giáo viên khoa học, nhà thiên văn học nghiệp dư và mục sư, David tìm thấy những nguyên lý cần có giúp cậu nhận ra sự hòa hợp giữa đức tin và khoa học. Sau Kinh Thánh, đây là quyển sách có ảnh hưởng triết học lớn nhất đối với Livingstone.[5]

Những người khác có ảnh hưởng đáng kể trên cậu trai trẻ David Livingstone là Thomas Burke, nhà truyền bá phúc âm, và David Hogg, giáo viên Trường Chúa Nhật của cậu.[5] Lúc mười chín tuổi, David và thân phụ rời bỏ Giáo hội Scotland để gia nhập một nhà thờ Tự trị Giáo đoàn. Chịu tác động bởi nhiệt tâm dành cho công cuộc truyền giáo trong cuộc phục hưng tôn giáo tại Mỹ, khi đọc quyển Appeal to the Churches of Britain and America on behalf of China của Karl Gützlaff, David thuyết phục thân phụ rằng theo học ngành y sẽ là một chọn lựa tốt cho cậu để chuẩn bị cho cuộc đời phụng sự các lý tưởng tôn giáo.[6]

Những kinh nghiệm Livingstone có được từ khi còn là một cậu bé mười tuổi đến làm công tại nhà máy dệt trong suốt sáu năm kế tiếp - lúc đầu cậu được giao công việc nối chỉ, về sau là đánh sợi – chính công việc đơn điệu buồn tẻ này đã cho cậu tính nhẫn nại, kiên trì và một trái tim nhân hậu biết cảm thông với giới lao động.[7].

Học vấn[sửa | sửa mã nguồn]

Livingstone, cùng vài đứa trẻ khác cũng là con cái của các công nhân nhà máy dệt, đến học tại trường làng Blantyre. Đến trường không phải là dễ dàng gì đối với bọn trẻ bởi vì chúng phải làm việc mười bốn giờ mỗi ngày tại nhà máy, nhưng gia đình Livingstone luôn chú trọng đến học thức, muốn cậu tiến xa hơn.

Sau quyết định cống hiến đời mình cho công cuộc truyền giáo đến Trung Hoa trong cương vị một bác sĩ y khoa, năm 1843, Livingstone bắt đầu dành dụm tiền để đến năm 1836 vào Đại học Anderson (nay là Đại học Strathclye). Ngôi trường được thành lập với mục tiêu phổ cập kiến thức khoa học và kỹ thuật vào cuộc sống thường nhật, cùng lúc cậu tham dự những buổi học Hi vănthần học tại Đại học Glasgow.[8] Cậu cũng đến nghe các buổi diễn thuyết thần học của Wardlaw, nhà lãnh đạo chiến dịch chống tệ nạn buôn bán nô lệ. Sau đó, Livingstone xin gia nhập Hội Truyền giáo Luân Đôn, được gởi đến một khóa huấn luyện dành cho các giáo sĩ, trong khi vẫn tiếp tục học y khoa.[6]

Tháng 9 năm 1839, bùng nổ Chiến tranh Nha phiến lần thứ nhất làm tiêu tan mọi hi vọng của Livingstone đến truyền giáo tại Trung Hoa, hội truyền giáo đề nghị ông đến Tây Ấn. Năm 1840, khi đang học y khoa tại Luân Đôn, Livingstone gặp nhà truyền giáo Robert Moffat vừa trở về từ Kuruman, một cơ sở truyền giáo tiền phương ở Nam Phi, phía bắc sông Orange. Bị thu hút bởi đề án của Moffat mở rộng khu vực truyền giáo lên phía bắc, và chịu thuyết phục bởi các luận cứ của T. F. Buxton cho rằng nạn buôn bán nô lệ sẽ hủy diệt mọi ảnh hưởng của mậu dịch chính thức và công cuộc truyền bá Cơ Đốc giáo; Livingstone bắt đấu quan tâm đến nam châu Phi.[6] Chính nhận xét của Moffat cho rằng Livingstone là người thích hợp nhất để khám phá những đồng bằng rộng mênh mông ở phía bắc Bechuanaland, nơi ông đã thấy "những làn khói bay lên từ hàng ngàn ngôi làng, nhưng chưa có một nhà truyền giáo nào đặt chân đến đây" đã gây ấn tượng mạnh trên Livingstone.[5]

Truyền giáo ở nam châu Phi[sửa | sửa mã nguồn]

Hành trình của Livingstone tại châu Phi (1851-1873).

Tháng 12 năm 1840, Livingstone đi tàu đến Kuruman, và đặt chân đến cơ sở truyền giáo của Moffat (nay thuộc Nam Phi) vào tháng 7 năm 1841. Đến nơi, Livingstone thất vọng khi thấy ngôi làng quá nhỏ và số tín hữu quá ít sau những nỗ lực kéo dài suốt 20 năm của Moffat. Chỉ có khoảng 40 người chịu lễ báp têm và một giáo đoàn khoảng 350 người. Livingstone tiến xa hơn về hướng bắc, một khu vực thường xuyên bị nhũng nhiễu bởi những thương nhân, thợ săn, và dân định cư Afrikaner.[9]

Năm 1844, khi đang thiết lập cơ sở truyền giáo mới tại Mabotswa cho sắc dân Kgatla, Livingstone bị sư tử tấn công, nếu không nhờ Mebalwe, một giáo viên người Phi, giải cứu, có lẽ ông đã bị mất mạng. Cả hai đều bị thương nặng. Một cánh tay của Livingstone bị liệt một phần, và ông phải chịu đau đớn do vết thương cho đến cuối đời.[5]

Tháng 12 năm 1843, Robert Moffat cùng gia đình đến Kuruman, sau đó là hôn lễ của Livingstone với Mary, trưởng nữ của Moffat, ngày 2 tháng 2 năm 1845. Mary là người Tô Cách Lan nhưng sống ở châu Phi từ khi mới lên bốn. Livingstone dời đến một cơ sở truyền giáo tiền phương tại Chonuane sống giữa bộ tộc Kwena của tù trưởng Sechele. Do hạn hán, năm 1847, ông theo bộ tộc Kwena di chuyển đến Kolobeng. Mary cùng đi với Livingstone trong một thời gian ngắn dù đang mang thai.[5] Tháng 5 năm 1847, Mary sinh con gái đầu lòng Agnes, và mở một trường dạy trẻ, trong khi Livingstone phân tích ngữ văn tiếng Setswana mà ông đã thông thạo. Tù trưởng Sechele là người đầu tiên đến với đức tin Cơ Đốc. Livingstone luôn nhấn mạnh đến tầm quan trọng của sự thông hiểu về các tập quántín ngưỡng địa phương, cũng như khuyến khích người châu Phi tham gia tích cực vào việc truyền bá phúc âm, dù ông không gặt hái nhiều thành quả trong lĩnh vực này, mà thấy mình thích hợp hơn với việc đào tạo các nhà truyền giáo.[6]

Thám hiểm Nam và Trung châu Phi[sửa | sửa mã nguồn]

Trong giai đoạn từ năm 1852 – 1856, Livingstone, trong nỗ lực khám phá châu Phi, trở thành người châu Âu đầu tiên nhìn thấy thác Mosi-oa-Tunya ("khói đang gầm thét"), ông chọn cho nó một tên mới, Thác Victoria, theo tên của Nữ hoàng Victoria. Về sau ông viết, "Cảnh quan quá tuyệt vời đến nỗi các thiên sứ đang bay chắc cũng phải ngắm nhìn."[10]

Livingstone cũng là người phương Tây đầu tiên thực hiện cuộc hành trình băng ngang lục địa Phi châu, từ Luanda (nay là thủ đô của Angola) bên bờ Đại Tây Dương đến đến Quelimane cạnh Ấn Độ Dương gần cửa sông Zambezi trong những năm 1854-56.[5] Mặc dù đã có nhiều đoàn thám hiểm đến từ châu Âu, nhất là những người Bồ Đào Nha, chưa có người Âu nào từng băng qua trung và nam châu Phi kể từ vĩ độ này bởi vì nỗi e sợ đối với bệnh sốt rét, bệnh lỵ, và bệnh trùng mũi khoan châu Phi (bệnh buồn ngủ) đang lan rộng trong vùng, điều này cũng khiến họ không thể sử dụng sức kéo của bò và ngựa cũng như gặp phải sự chống đối của những bộ tộc hùng mạnh như Lozi và Lunda của Mwata Kazembe. Tuy nhiên, Livingstone có những lợi thế của riêng mình, ông tổ chức những chuyến thám hiểm gọn nhẹ, lại có khả năng thuyết phục các tù trưởng rằng ông không phải là mối đe dọa đối với họ, không giống những đoàn thám hiểm khác có nhiều lính vũ trang hộ tống cùng hàng chục phu khuân vác, trông giống như những cuộc tấn công của quân đội hoặc những vụ bố ráp của những nhóm buôn nô lệ. Với một đoàn tùy tùng chỉ có vài người giúp việc và một ít người khuân vác, Livingstone và đoàn thám hiểm của ông trong suốt chuyến đi phải trao đổi với người bản địa để có những vật cần dùng, ông chỉ đem theo mình hai khẩu súng để tự vệ. Livingstone thường truyền bá thông điệp phúc âm nhưng không buộc người khác phải lắng nghe; ông hiểu tập quán của những tù trưởng và thương thảo để được phép băng qua lãnh thổ của họ, thường khi ông được đón tiếp tử tế và nhận được sự giúp đỡ từ họ, ngay cả từ Mwata Kazembe.

Mục tiêu của những chuyến thám hiểm là mở các tuyến đường, cũng như khảo sát châu lục này. Những quan tâm khác của Livingstone là mở rộng giao thương và thiết lập các cơ sở truyền giáo tại Trung Phi. Phương châm của Livingstone, được ghi dưới chân bức tượng của ông đặt tại Thác Victoria, là "Cơ Đốc giáo, Giao thương, và Khai hóa". Lý do khiến Livingston ủng hộ ba nguyên tắc trên là vì ông tin rằng chúng sẽ có thể thay thế nạn buôn bán nô lệ lúc ấy đang tràn lan ở châu Phi, cũng như cho người Phi phẩm giá khi tiếp xúc với người Âu. Hủy bỏ chế độ nô lệ ở châu Phi luôn là mục tiêu quan trọng trong cuộc đời Livingstone. Khi ấy ông tin rằng giải pháp giúp hoàn thành các mục tiêu trên là tổ chức cuộc hành trình thám hiểm dòng sông Zambezi để đi sâu vào nội địa.[11] Livingstone trở về Anh Quốc để tìm kiếm sự hậu thuẫn cho ý tưởng này, xuất bản một cuốn sách viết về những chuyến đi của ông, tác phẩm này đã mang đến cho ông thanh danh của nhà thám hiểm hàng đầu trong thời đại ông.

Tin rằng mình nhận lãnh ơn gọi để thực hiện các chuyến thám hiểm chứ không phải để tham gia vào công cuộc truyền giáo, cùng lúc là những đáp ứng thuận lợi từ nước Anh đề nghị hỗ trợ cho các chuyến thám hiểm kế tiếp, là những nhân tố dẫn đến quyết định của Livingstone từ nhiệm khỏi Hội Truyền giáo Luân Đôn để tập trung vào mục tiêu khám phá châu Phi. Nhờ sự vận động của chủ tịch Hội Địa lý Hoàng gia, Livingstone được bổ nhiệm là Cố vấn của Nữ hoàng về Bờ biển phía Đông của châu Phi[5]

Thám hiểm Sông Zambezi[sửa | sửa mã nguồn]

Livingstone trở lại Phi châu trong cương vị người đứng đầu đề án "Thám hiểm sông Zambezi" được tài trợ bởi chính phủ Anh nhằm khảo sát tài nguyên thiên nhiên trong vùng đông nam châu Phi. Khi vượt qua thác Cabora Bassa, Livingstone mới nhận ra rằng lưu thông trên Sông Zambezi là hoàn toàn bất khả. Một chuỗi thác lớn đã khiến cuộc hành trình của Livingstone thất bại ngay trong giai đoạn đầu.[11]

Mộ của Mary Moffat Livingstone tại Chupanga, Mozambique.

Cuộc thám hiểm sông Zambezi khởi sự từ tháng 3 năm 1858 và kéo dài đến giữa năm 1864. Các thành viên trong đoàn thám hiểm cho rằng Livingstone là một nhà lãnh đạo thiếu kinh nghiệm và gặp khó khăn trong kỹ năng điều hành một đề án qui mô lớn. Ông cũng bị chỉ trích là không chịu bàn bạc công khai, tự mãn, và thường khi rầu rĩ. Thomas Baines, một họa sĩ trong đoàn thám hiểm, bị sa thải vì những nghi ngờ về trộm cắp dù Baines bác bỏ cáo buộc này.

Trước tiên, đoàn đến Hồ Malawi trên một chiếc xuồng bốn mái chèo, tiến hành thám hiểm hồ. Đến năm 1862, đoàn quay lại bờ biển đợi chiếc tàu chạy bằng hơi nước được thiết kế đặc biệt để di chuyển trên hồ Malawi. Mary Livingstone đi trên thuyền này. Sau những thất bại của đoàn khi cố thăm dò Sông Ruvuma bởi vì bánh xe guồng của tàu hơi nước bị vướng vào những thi thể trôi sông – nạn nhân của bọn người buôn nô lệ; rồi thì các phụ tá của Livingstone hoặc qua đời hoặc rời bỏ đoàn.[12] Ngày 29 tháng 4 năm 1863, Mary, vợ của Livingstone, qua đời vì bệnh sốt rét, nhưng Livingstone vẫn tiếp tục cuộc hành trình cho đến khi bị buộc phải quay về nước Anh vào năm 1864, khi chính phủ ra lệnh hủy bỏ cuộc thám hiểm bởi vì chi phí gia tăng, và vì không thể tìm ra một thủy lộ đi sâu vào nội địa.

Cuộc thám hiểm Zambezi được miêu tả trên báo chí thời ấy như là một thất bại khiến Livingstone gặp nhiều khó khăn trong nỗ lực tìm kiếm hỗ trợ tài chính cho công cuộc khám phá châu Phi. Tuy vậy, các nhà khoa học từng làm việc dưới quyền Livingstone như John Kirk, Charles Meller và Richard Thornton đã đóng góp những bộ sưu tập dữ liệu lớn về các lĩnh vực như thực vật, sinh thái, địa chấtdân tộc học cho các định chế khoa học tại Anh.

Thượng nguồn sông Nil[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 3 năm 1866, Livingstone trở lại châu Phi, lần này ông đến Zanzibar (nay là Tanzania) để bắt đầu cuộc thám hiểm tìm đến thượng nguồn sông Nil. Đây là cuộc hành trình thứ ba cũng là chuyến đi cuối cùng của Livingstone.

Henry Morton Stanley tìm gặp David Livingstone

Cùng với các thổ dân trung thành, SisuChuma, ông tìm đến các hồ Tanganyika, Mweru và Bangewulu. Bản đồ châu Phi dần dần được hình thành trong khi ông cố tìm ra thượng nguồn sông Nil nhưng thất bại.

Từ trần[sửa | sửa mã nguồn]

Livingstone mắc bệnh và hoàn toàn mất liên lạc với thế giới bên ngoài trong quãng thời gian kéo dài sáu năm. Chỉ có một trong số 44 lá thư ông gởi đi đến được Zanzibar. Năm 1869, nhật báo New York Herald cử Henry Morton Stanley đi tìm Livingstone, sau cùng Stanley tìm gặp Livingstone tại thị trấn Ujiji bên bờ hồ Tanganyika vào tháng 10 năm 1871.[13] Stanley gia nhập đoàn thám hiểm của Livingstone để khám phá vùng đất cực bắc Tanganyika (nay thuộc Tanzania). Tháng 3 năm sau, Stanley rời đoàn.

Mặc cho những lời nài nỉ của Stanley, Livingstone vẫn không chịu rời bỏ Phi châu cho đến khi ông hoàn tất nhiệm vụ.

Ngày 1 tháng 5 năm 1873, Livingstone từ trần tại ngôi làng của Tù trưởng Chitambo ở Illala đông nam Hồ Bangwelulu, đông bắc Rhodesia, do mắc bệnh sốt rét và do xuất huyết nội bởi bệnh lỵ (dysentery). Quả tim của Livingstone được chôn dưới gốc cây Mvula gần nơi ông lâm chung (nay là Đài Tưởng niêm Livingstone). Thi thể của Livingstone được các thổ dân từng là bạn đồng hành với ông trong những cuộc thám hiểm trước đó mang đi vượt qua 1.000 dặm đến Zanzibar, từ đó được đưa về Anh và an táng tại Tu viện Westminster (Westminster Abbey).[5]

Livingstone trong văn hóa nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Đài Tưởng niệm David Livingstone tại Thác Victoria
  • Một xuất phẩm điện ảnh mang tên Stanley và Livingstone đã được trình chiếu, với Cedric Hardwicke trong vai Livingstone và Spencer Tracy trong vai Stanley, thuật lại những hoạt động của Livingstone tại châu Phi.
  • "Dr. Livingstone, I Presume", một ca khúc trong album In Search of the Lost Chord của Moody Blues, phát hành năm 1968.
  • Mountains of the Moon, một cuốn phim trình chiếu năm 1990, trong đó Bernard Hill thủ vai Livingstone.

Tưởng niệm[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố Livingstone ở Zambia, thị trấn Livingstonia ở MalawiThác Livingstone trên sông Congo được đặt theo tên ông, còn Thành phố Blantyre, Malawi được đặt theo một địa danh ở Scotland, nơi sinh trưởng của Livingstone.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 100 Greatest Britons
  2. ^ John M. Mackenzie, "David Livingstone: The Construction of the Myth," in Sermons and Battle Hymns: Protestant Popular Culture in Modern Scotland, ed. Graham Walker and Tom Gallagher (Edinburgh: Edinburgh University Press, 1990).
  3. ^ The National Trust for Scotland: David Livingstone Centre, Birthplace Of Famous Scot, website truy cập 22 tháng 4 năm 2007.
  4. ^ Ross, Andrew C., David Livingstone: Mission and Empire (London: Hambledon, 2002), 6.
  5. ^ a ă â b c d đ e Blaikie, William Garden (1880): The Personal Life Of David Livingstone. Project Gutenberg Ebook #13262, release date: 23 tháng 8 năm 2004].
  6. ^ a ă â b A.D. Roberts, "Livingstone, David (1813-1873)," Oxford Dictionary of National Biography (Oxford: Oxford University Press, 2004).
  7. ^ Blaikie (1880). This sentiment today would be expressed along the lines of: "all people, worldwide, are brothers and sisters, despite everything."
  8. ^ University of Glasgow: Biography of David Livingstone. Truy cập 31 tháng 10 năm 2007.
  9. ^ Tim Jeal, Livingstone (London: Heinemann, 1973), 39-48.
  10. ^ Jeal, p. 149
  11. ^ a ă Tim Holmes: "The History" in: Spectrum Guide to Zambia. Camerapix International Publishers, Nairobi. 1996
  12. ^ Wright, Ed (2008). Lost Explorers. Murdock Books. ISBN 978-1-74196-139-3. 
  13. ^ Northern Rhodesia Journal online: "David Livingstone chronology." Vol V, No. 3 (1963). Note that Livingstone records the date as 24 October since he was by then 16 days out in his date reckoning. Truy cập 23 tháng 3 năm 2007.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Holmes, Timothy. Journey to Livingstone: Exploration of an Imperial Myth. Edinburgh: Canongate Press, 1993.
  • Jeal, Tim (1973). Livingstone. London: Heinemann. tr. 427p. ISBN 0-434-37208-0. 
  • Martelli, George. Livingstone's River: A History of the Zambezi Expedition, 1858-1864. London: Chatto & Windus, 1970.
  • Ross, Andrew C. David Livingstone: Mission and Empire. London and New York: Hambledon and London, 2002.
  • Nourbese Philip, Marlene. Looking for Livingstone: An Odyssey of Silence, Toronto: The Mercury Press, 1991.
  • Livingstone, David. Dernier Journal. Arléa, 1999 – ISBN 2-86959-449-6 (tiếng Pháp)
  • Eynikel, Hilde. Mrs. Livingstone: een biografie. Davidsfonds, 2005, 487 pages - – ISBN 90-5826-347-9 (tiếng Hà Lan)
  • Livingstone, David (1905) [1857]. Journeys in South Africa (or Travels and Researches in South Africa (book). London: The Amalgamated Press Ltd. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]