David Samoylov

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
David Samoylov
Sinh 1 tháng 6 năm 1920
Flag of Russia.svg Moskva, Nga
Mất 23 tháng 2 năm 1990
Flag of Estonia (bordered).svg Tallinn, Estonia
Công việc Nhà thơ, Nhà văn
Thể loại Thơ, Văn xuôi

David Samoylov (tiếng Nga: Давид Самойлов) là bút danh của David Samuilovich Kaufman (tiếng Nga: Давид Самуилович Кауфман, 1 tháng 6 năm 1920 – 23 tháng 2 năm 1990) - nhà thơ Nga - Xô Viết.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

David Samoylov sinh ở Moskva. Bố là bác sĩ, tham gia Thế chiến thứ nhất, Nội chiến và Thế chiến thứ hai. Những năm 1938 – 1941, David Samoylov học ở Đại học văn học, lịch sử và triết học Moskva (ИФЛИ). Năm 1941 tình nguyện ra mặt trận nhưng bị giữ lại ở hậu phương do tình trạng sức khoẻ không được tốt. Một thời gian học hàm thụ ở Đại học Sư phạm Ashkhabad. Sau chiến tranh ông dịch thơ từ các thứ tiếng Litva, tiếng Ba Lan, tiếng Séc, tiếng Hungary ra tiếng Nga.

Năm 1958 in tập thơ đầu tiên Ближние страны (Những đất nước gần) viết về những người chiến đấu ngoài mặt trận. Sau đấy lа các tập thơ trữ tình triết học như Второй перевал (Ngọn đèo thứ hai, 1974). Волна и камень (Đá và sóng, 1974); Голоса за холмами (Những giọng sau đồi, 1985)...

David Samoylov còn là tác giả của tập truyện hài rất nổi tiếng và nhiều bài viết về luật thơ. Ông được tặng thưởng nhiều huân chương của nhà nước Liên Xô. Năm 1988 được tặng Giải thưởng Nhà nước Liên Xô. Những năm tháng cuối đời ông sống ở Estonia và chỉ dịch văn học các nước. Ông mất năm 1990 ở Tallinn, Estonia.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ближние страны (Những quốc gia láng giềng), thơ
  • Второй перевал (Ngọn đèo thứ hai, 1974), thơ
  • Волна и камень ( Đá và sóng, 1974), thơ
  • Голоса за холмами (Những giọng sau đồi, 1985), thơ
  • Весть (Tin tức, 1978), thơ
  • Залив (Vịnh, 1981), thơ
  • Памятные записки (Những ghi chйp kỷ niệm, 1995), ghi chép
  • В кругу себя (частично опубл. в 1993)
  • Равноденствие (Tiết thu phвn, 1972), thơ
  • Последние каникулы (Những kỳ nghỉ cuối cùng, 1972), thơ

Một vài bài thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Тебе свою судьбу вручил навек
 
Тебе свою судьбу вручил навек,
И как бы ни была судьба печальна,
Меня не отлучит любой навет
И то, что изначально и случайно.
 
Суть назначенья моего проста,
И к этому мне нечего добавить:
Во имя зла не разжимать уста
И лишь тебя благославлять и славить.
 
То, что от меня пошло
 
То, что от меня пошло,
Так при мне останется.
Ну а что ко мне пришло,
От меня отвалится...
Как грешить ни тяжело,
Тяжелее каяться.
 
Скажи себе: "Не укради"
 
Скажи себе: "Не укради" -
И от соблазна отойди.
 
Себе промолви: "Не обидь" -
И не обидишь, может быть.
 
И "Не убий" - себе скажи
И нож подальше отложи.
 
А там уж "Возлюби" воспой.
А не возлюбишь, бог с тобой.
 
Коль не украл и не убил,
Неважно, что не возлюбил.
Số phận mình
 
Số phận mình, anh trao em muôn thuở
Và dù cho số phận có đau buồn
Điều vu khống ở cùng anh, em ạ
Tự buổi ban đầu và rất ngẫu nhiên.
 
Mục đích của anh vô cùng đơn giản
Và điều này chẳng có chút gì thêm:
Vì cái ác anh không hề mở miệng
Chỉ mình em anh ca tụng, tạ ơn.
 
Hối hận điều đã làm thật khó
 
Tất cả những gì mà tôi đem cho
Thì bây giờ vẫn còn đây đầy đủ.
Nhưng những gì mà tôi được nhận về
Thì bây giờ đang ra đi hết cả…
Phạm lỗi lầm, quả thật, chẳng khó gì
Nhưng hối hận điều đã làm thật khó.
 
Không quan trọng
 
“Đừng ăn cắp” – hãy tự nói với mình[1]
Và hãy tránh thật xa sự cám dỗ.
 
Hãy tự nói với mình: “Chớ giận hờn”
Và bạn sẽ không giận hờn, có thể.
 
“Chớ giết người” – hãy tự nói với mình
Và con dao hãy để sang một bên.
 
Còn câu “Hãy yêu người” – hãy hát
Nhưng bạn không yêu, thôi thì cứ mặc.
 
Nếu bạn không ăn cắp, không giết người
Thì không quan trọng: bạn chẳng yêu ai.
Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Những lời răn trong Kinh Thánh

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]