Dermogenys pusilla

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cá lìm kìm đấu vật
Female Dermogenys sumatrana.jpeg
Cá lìm kìm đấu vật trong hồ cá
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Actinopterygii
Bộ (ordo) Beloniformes
Họ (familia) Zenarchopteridae
Chi (genus) Dermogenys
Loài (species) D. pusilla
Danh pháp hai phần
Dermogenys pusilla
Kuhl & van Hasselt, 1823

Cá lìm kìm đấu vật, Dermogenys pusilla, còn được gọi là Cá lìm kìm Mã Lai là một loài cá lìm kìm nguồn gốc từ các vùng nước ngọt và nước lợ của các con sông và khu vực ven biển ở Đông Nam Á, trong Singapore, Thái Lan, Indonesia, Thái Lan, Malaysia, BorneoSumatra.[1][2] Đây là một loài cá nhỏ, thanh mảnh, với đặc tính hàm dưới kéo dài của họ của chúng. Màu sắc của loài này khác nhau, tùy thuộc vào nơi mẫu vật được tìm thấy.[3]

Cá lìm kìm đấu vật là loài cá kiếm ăn bề mặt và ăn nhiều loại động vật không xương nhỏ bao gồm cả động vật giáp xác và ấu trùng côn trùng, nhưng ấu trùng đặc biệt là muỗi và côn trùng bay rơi vào bề mặt của nước.[4] Như với tất cả cá lìm kìm, hàm trên được nâng lên khi cá mở miệng. Những con cái sinh khoảng hai mươi con sau thời gian mang thai khoảng một tháng.[5][6][7]

Cá lìm kìm đấu vật có dị hình lưỡng tính. Con cái lớn hơn con đực và lớn đến 7 cm (2,8 inch), con đực chỉ đạt khoảng 5,5 cm (2,2 inch) và thường có các vá màu vàng hay đỏ trên vây lưng và mỏ.[8][9] Con đực đánh nhau bằng cách khóa hàm, có khi đến đến ba mươi phút.

Cá đánh nhau[sửa | sửa mã nguồn]

Trong tự nhiên, và trong hồ lớn, con đực yếu hơn sẽ nhanh chóng buông tha và bơi đi, và chiến đấu do đó hiếm khi gây thương tích nghiêm trọng cho một trong hai bên. Tuy nhiên, trong phạm vi bản xứ của chúng, người dân địa phương đôi khi sử dụng cá lìm kìm đấu vật cho mục đích cá cược (như gà đá hoặc cá chọi Xiêm).[10][11]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Thông tin "Dermogenys pusilla" trên FishBase, chủ biên Ranier Froese và Daniel Pauly. Phiên bản tháng November năm 2005.
  2. ^ Dermogenys pusilla (TSN 616690) tại Hệ thống Thông tin Phân loại Tích hợp (ITIS).
  3. ^ Schäfer F & M. Kemkes: All Livebearers and Halfbeaks, Aqualog 1998, ISBN 3-931702-77-4
  4. ^ “Pygmy Halfbeak”. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 5 năm 2006. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2006. 
  5. ^ Meisner, A & Burns, J: Viviparity in the Halfbeak Genera Dermogenys and Nomorhamphus (Teleostei: Hemiramphidae). Journal of Morphology 234, pp 295-317, 1997
  6. ^ “Keeping & Breeding Halfbeaks”. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2006. 
  7. ^ Earl Blewett. “Dermogenys pusillus - The Wrestling Halfbeak Livebearer”. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2006. 
  8. ^ Riehl R. & Baensch H: Aquarium Atlas (vol. 1), Voyageur Press, 1996, ISBN 3-88244-050-3
  9. ^ Riehl R. & Baensch H: Aquarium Atlas (vol. 2), Microcosm Ltd, 1997, ISBN 1-890087-06-8
  10. ^ “Freshwater Fishes and the Singaporean”. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2007. 
  11. ^ Sterba, G: Freshwater Fishes of the World, p. 609, Vista Books, 1962