Diêm Tích Sơn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Diêm Tích Sơn; 閻錫山
Yan Xishan.jpg
Tướng Diêm Tích Sơn
Tiểu sử
Sinh

08 tháng 8, 1883(1883-08-08)

China Qing Dynasty Flag 1889.svgHân Châu, Sơn Tây
Mất

22 tháng 7, 1960 (76 tuổi)

Flag of the Republic of China.svgĐài Bắc, Đài Loan
Binh nghiệp
Phục vụ Flag of the Republic of China.svg Trung Hoa Dân Quốc
Thuộc Republic of China Army Flag.svg Quân đội Cách mạng Quốc dân
Năm tại ngũ 1911–1949
Cấp bậc Đại tướng
Chỉ huy Trung đoàn 2, Sư đoàn Sơn Tây, quân Bắc Dương
Quân đội Sơn Tây
Quân đội Cách mạng Quốc dân
Tham chiến Cách mạng Tân Hợi
Chiến tranh Bắc phạt (1926–1927)
Đại chiến Trung Nguyên
Chiến tranh Trung-Nhật
Nội chiến Trung Hoa
Khen thưởng Huân chương Thanh thiên bạch nhật

Diêm Tích Sơn (phồn thể: 閻錫山; giản thể: 阎锡山; bính âm: Yán Xíshān; Wade–Giles: Yen Hsi-shan) (8 tháng 10, 1883 – 22 tháng 7, 1960) là một quân phiệt Trung Hoa phục vụ trong Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc. Diêm kiểm soát tỉnh Sơn Tây từ Cách mạng Tân Hợi 1911 tới khi quân Cộng sản chiến thắng năm 1949 trong Nội chiến Trung Hoa. Là thủ lĩnh một tỉnh tương đối nhỏ, nghèo, lại hẻo lánh, Diêm Tích Sơn đã trải qua thời kỳ khôi phục đế chế của Viên Thế Khải, thời kỳ quân phiệt, giai đoạn Quốc dân đảng nắm quyền, Chiến tranh Trung-Nhật, và cuộc nội chiến sau đó. Ông buộc phải thoái vị khi Quân đội Quốc dân đồng minh của ông đã hoàn toàn mất quyền kiểm soát đại lục, khiến Sơn Tây hoàn toàn bị cô lập. Diêm được các sử gia phương Tây đánh giá là một nhân vật cải cách, ủng hộ việc sử dụng công nghệ Tây phương để bảo vệ những truyền thống Trung Hoa, cùng với những cải cách kinh tế, chính trị, xã hội mà trên một phương diện nào đó đã dọn đường cho những cải cách triệt để được thực hiện về sau này.[1]

Thời trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Tuổi trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Diêm Tích Sơn sinh ra cuối thời nhà Thanh ở vùng Tây Bắc tỉnh Sơn Tây trong một gia đình nhiều đời kinh doanh ngân hàng và buôn bán (Sơn Tây nổi tiếng là có nhiều nhà ngân hàng thành đạt cho tới tận cuối thế kỷ thứ 19). Chàng trai trẻ làm việc trong ngân hàng của cha mình vài năm trong lúc học tập kinh điển Khổng giáo tại một trường làng. Sau khi cha ông phá sản trong một cuộc suy thoái kinh tế vào cuối thế kỷ 19, Diêm vào học tại một trường quân sự được chính quyền Mãn Châu điều hành tại Thái Nguyên. Trong thời gian học tập tại trường, Diêm lần đầu tiên được tiếp xúc với toán học, vật lý, và những môn học phương Tây khác. Năm 1904, Diêm nằm trong số học sinh được gửi sang Nhật, vào học tại Học viện Lục quân Đế quốc, và tốt nghiệp năm 1909.[2]

Trải nghiệm tại Nhật Bản[sửa | sửa mã nguồn]

Khi học tập tại Nhật, Diêm rất ấn tượng với công cuộc hiện đại hóa thành công của Nhật Bản. Ông quan sát bước tiến của những cư dân Nhật Bản một thời bị xem là man di chậm tiến, và bắt đầu lo ngại về những hậu quả nếu Trung Hoa bị tụt hậu với thế giới. Những trải nghiệm này về sau trở thành niềm cảm hứng lớn cho những nỗ lực hiện đại hóa Sơn Tây của Diêm.[2]

Sau cùng Diêm kết luận rằng người Nhật có thể cải cách thành công chủ yếu là do Chính phủ Nhật Bản có thể huy động mọi nguồn nhân lực để phục vụ những chính sách của chính phủ, cũng như mối quan hệ gần gũi giữa giới quân sự và dân sự Nhật. Diêm cho rằng thắng lợi bất ngờ của Nhật trong Chiến tranh Nga-Nhật 1905 là nhờ vào sự ủng hộ nhiệt tình của công chúng giành cho Quân đội Nhật. Sau khi trở về Trung Hoa năm 1909, Diêm viết một quyển sách cảnh báo rằng Trung Hoa đang cận kề nguy cơ bị Nhật xâm chiếm trừ khi người Trung Hoa phát triển một dạng ý thức hệ tương tự như võ sĩ đạo.[3]

Thậm chí từ trước khi du học Nhật, Diêm đã chán ghét tình trạng tham nhũng tràn lan trong đám quan lại nhà Thanh tại Sơn Tây, và cho rằng sự bất lực của Trung Hoa trong thế kỷ 19 là kết quả của chính sách bảo thủ cũng như đường lối đối ngoại bạc nhược của triều Thanh. Tại Nhật, Diêm gia nhập Đồng minh hội của Tôn Dật Tiên, và chủ trương tuyên truyền rộng rãi tư tưởng của Tôn bằng cách thành lập một tổ chức lấy tên "Hội Sắt Máu" (鐵血償付團) bên trong Học viện Lục quân. Mục tiêu rõ ràng của tổ chức sinh viên này là phát động cách mạng để thiết lập một nước Trung Hoa hùng mạnh và thống nhất, giống như Bismark đã thống nhất nước Đức.[3]

Trở về Trung Hoa[sửa | sửa mã nguồn]

Khi trở về Trung Hoa năm 1909, Diêm được bổ nhiệm là tư lệnh một sư đoàn tại Sơn Tây. Trong Cách mạng Tân Hợi 1911, Diêm chỉ huy lực lượng cách mạng địa phương đánh đuổi quân Mãn Thanh khỏi tỉnh, rồi tuyên bố độc lập khỏi triều Thanh. Diêm cũng công kích sự bạc nhược của nhà Thanh trước ngoại bang, và hứa hẹn sẽ tiến hành cải cách chính trị xã hội sâu rộng.[4]

Giai đoạn đầu Dân Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Diêm Tích Sơn đầu những năm 1920s, không lâu sau khi lên nắm quyền tại Sơn Tây.

Xung đột với Viên Thế Khải[sửa | sửa mã nguồn]

Diêm được bầu làm Đốc quân, nhưng không ngăn nổi cuộc tấn công của lực lượng Viên Thế Khải đánh chiếm phần lớn Sơn Tây trong năm 1913. Trong cuộc tấn công này, Diêm chỉ biết rút lui về hướng bắc và liên kết với một nhóm vũ trang khác ở tỉnh Thiểm Tây láng giềng. Bắng cách tránh đối đầu trực diện với quân của Viên, Diêm giữ được căn cứ của mình. Dù là bạn của Tôn Dật Tiên, Diêm quay sang ủng Viên năm 1913, nhờ đó được quay lại chức Đốc quân Sơn Tây, nhưng dưới quyền ông đều là người do Viên phái tới.[4] Năm 1917, không lâu sau khi Viên Thế Khải chết, Diêm củng cố quyền thống trị Sơn Tây.[5] Sau cái chết của Viên, Trung Hoa chìm vào hỗn chiến quân phiệt.

Thái độ kiên quyết chống nhà Mãn Thanh của Sơn Tây là một nguyên nhân khiến ngay cả Viên cũng phải thừa nhận rằng chỉ có lật đổ nhà Thanh mới đem lại hòa bình cho Trung Hoa và chấm dứt nội chiến. Sự bất lực của Diêm trước sức mạnh quân sự của Viên ở miền Bắc Trung Hoa cũng là một yếu tố khiến Tôn Dật Tiên quyết định không theo đuổi chức Tổng thống Dân Quốc, được thành lập sau khi nhà Thanh sụp đổ. Ngoài ra, Tôn cho rằng tiếp tục nội chiến tương tàn với lực lượng của Viên không bằng nhường lại cho Viên chức Tổng thống để củng cố chế độ Dân Quốc, dù Viên là đối thủ của cách mạng.[6]

Những nỗ lực hiện đại hóa Sơn Tây[sửa | sửa mã nguồn]

Cho tới năm 1911, Sơn Tây là một trong những tỉnh nghèo nhất Trung Hoa. Diêm tin rằng, nếu không hiện đại hóa kinh tế cũng như cơ sở hạ tầng, Sơn Tây sẽ không chống nổi các sứ quân từ các nơi khác.[7] Một thất bại năm 1919 trước một lãnh chúa đối lập càng khiến Diêm tin tưởng rằng Sơn Tây chưa đủ mạnh để tranh giành với các địa phương khác, và do đó ông tránh tham gia vào những tranh chấp chính trị trong nước và duy trì chính sách trung lập, giữ Sơn Tây ở ngoài các cuộc nội chiến. Thay vào đó, Diêm tập trung toàn lực để hiện đại hóa Sơn Tây và tăng cường nguồn nội lực của tỉnh. Cuộc cải cách thành công này khiến ông được ca tụng là vị "Tỉnh trưởng kiểu mẫu", còn Sơn Tây là "tỉnh kiểu mẫu".[4]

Quyết tâm hiện đại hóa Sơn Tây của Diêm chủ yếu là do những trải nghiệm tại Nhật Bản, nhưng cũng nhờ vào sự tiếp xúc với các nhân vật ngoại quốc từng đến Sơn Tây vào năm 1918 để giúp Diêm diệt trừ bệnh dịch lúc đó. Diêm rất ấn tượng trước sự nhiệt tình, tài năng và tầm nhìn rộng lớn của họ, cũng như so sánh giữa họ với những viên chức bạc nhược yếu kém dưới quyền mình. Những cuộc đàm luận với các nhân vật cải cách, bao gồm John Dewey, Hồ Thích, và người bạn thân của Diêm là Khổng Tường Hy, càng củng cố quyết tâm của Diêm.[8]

Tham gia Chiến tranh Bắc phạt[sửa | sửa mã nguồn]

Để duy trì quyền tự trị của Sơn Tây và tránh xung đột lớn với các thế lực quân phiệt khác, Diêm sử dụng chiến lược luân phiên thay đổi đồng minh, theo gió trở cờ. Dù yếu hơn so với những lãnh chúa xung quanh, ông cố gắng giữ thế cân bằng giữa bọn họ, ngay ca những người từng bị ông phản bội cũng do dự không dám tấn công ông, vì họ còn cần sự ủng hộ của ông trong tương lai. Để chống lại quân phiệt Mãn Châu Trương Tác Lâm, Diêm liên minh với Tưởng Giới Thạch năm 1927, trong giai đoạn Chiến tranh Bắc phạt. Tháng 6 năm 1928, Diêm chiếm được Bắc Kinh, kết thúc thắng lợi cuộc Bắc phạt.[9] Diêm được Tưởng ban thưởng các chức Bộ trưởng Nội vụ[10] và Phó tổng tư lệnh Quân đội Quốc dân.[11]

Tham gia Đại chiến Trung Nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Diêm Tích Sơn: "Tổng thống kế nhiệm của Trung Hoa".

Liên minh Diêm-Tưởng chấm dứt vào năm sau, 1929, khi Diêm cùng Phùng Ngọc Tường chống lại chính phủ Quốc dân tại Hoa Bắc. Trong khi quân của Phùng và Tưởng chém giết lẫn nhau, Diêm tiến thẳng vào Sơn Đông như chỗ không người, chiếm được thủ phủ tỉnh vào tháng 6 năm 1930. Sau thắng lợi này, Diêm lập ra một chính phủ mới, tư mình làm Tổng thống, và triệu tập một "Hội nghị trung ương Quốc dân đảng mở rộng". Hội nghị này có mục đích soạn thảo ra một bản hiến pháp mới, có sự tham dự của nhiều yếu nhân trong đảng và quân đội, như Uông Tinh Vệ (giữ chức Thủ tướng của Diêm) và Lý Tông Nhân. Nhưng mọi việc thất bại sau khi Tưởng Giới Thạch đánh bại Phùng rồi tiến đánh Sơn Đông, tiêu diệt quân đội của Diêm. Khi quân phiệt Mãn Châu Trương Học Lương công khai tuyên bố đi theo Tưởng (vì Trương cần sự hỗ trợ của Tưởng để chống lại Nga Xô và Nhật Bản), Diêm trốn đến Đại Liên, Mãn Châu, đến năm 1931 mới trở về Sơn Tây sau khi làm hòa với Tưởng.[9][12] Trong cuộc chiến này, Tưởng Giới Thạch đã thao túng được người Hồi và Mông để lật đổ cả Phùng Ngọc Tường và Diêm.[13] Thất bại của Diêm và Tưởng năm 1930 được một số người cho là đánh dấu sự chấm dứt của thời kỳ quân phiệt Trung Hoa.

Những sự kiện từ năm 1927-1931 là do những chiến lược của các lãnh chúa quân phiệt vốn trông gió trở cờ, sớm đầu tối đánh, đã trở thành đặc trưng trong chính trị Trung Hoa kể từ khi chính phủ trung ương rơi vào cảnh suy sụp từ một thập kỷ trước. Nguyên nhân chính khiến Diêm thất bại là do những vùng Diêm kiểm soát đều kém phát triển và dân cư thưa thớt, khiến ông không thể tuyển mộ được một đội quân đông đảo và tinh nhuệ như của Tưởng.[9] Diêm cũng không có những sĩ quan tài giỏi như các sĩ quan của Tưởng, hay uy tín như Tưởng và phe Quốc dân đảng.[14] Trước khi Tưởng đánh bại Phùng và Diêm, Diêm Tích Sơn xuất hiện trên trang bìa tạp chí TIME, với dòng chú thích "Tổng thống tiếp theo của Trung Hoa."[15] Sự chú ý của ngoại quốc dành cho ông cũng như sự ủng hộ từ các chính khách Trung Hoa cao cấp, cho thấy rằng Diêm có nhiều khả năng trở thành lãnh tụ mới của Trung Hoa trong trường hợp Tưởng không chiến thắng được liên minh Diêm-Phùng.

Trở về Sơn Tây[sửa | sửa mã nguồn]

Diêm chỉ trở về được Sơn Tây sau một nỗ lực vận động trên chính trường. Lý do chính khiến Tưởng không thể loại trừ ngay những thuộc hạ của Diêm và theo đó vĩnh viễn tiêu diệt thế lực của ông tại Sơn Tây là do áp lực của Trương Học Lương và người Nhật, vì họ đều lo ngại Tưởng sẽ thừa cơ mở rộng thế lực sang Mãn Châu. Khi Diêm vắng mặt, chính phủ dân sự ngừng hoạt động, và hàng tá quân phiệt nhỏ trỗi dậy tranh giành quyền lực, buộc Tưởng phải bổ nhiệm các thuộc hạ của Diêm đứng ra điều hành công việc. Dù không chính thức tuyên bố quay lại chính trường ngay lúc đó, Diêm trở về Sơn Tây năm 1931 với sự ủng hộ của Trương. Tưởng không lên tiếng phản đối vì còn đang bận đánh nhau với Lý Tông Nhân, lúc này vừa tiến vào Hồ Nam từ căn cứ địa Quảng Tây với danh nghĩa là ủng hộ Diêm.[16]

Diêm chính thức tái xuất trên chính trường Sơn Tây khi Chính phủ Nam Kinh thất bại trong việc chống cự trước quân Nhật sau Sự biến Thẩm Dương, tạo điều kiện cho Diêm và phe đảng loại bỏ các viên chức Quốc dân đảng tại đây. Ngày 18 tháng 12, 1931, một nhóm sinh viên (được các thuộc hạ của Diêm ủng hộ và có lẽ là chỉ đạo nữa) tại Thái Nguyên tập hợp phản đối chính sách nhân nhượng Nhật Bản của chính phủ Nam Kinh. Cuộc biểu tình trở nên bạo lực đến nỗi cảnh sát Quốc dân đảng nổ súng vào đám đông. Sư kiện "Thảm sát 18/12" gây ra một làn sóng giận dữ, tạo điều kiện cho các thuộc hạ của Diêm thừa cơ trục xuất các viên chức Quốc dân đảng khỏi tỉnh, viện cớ là để đảm bảo an ninh. Sau vụ này, tổ chức Quốc dân đảng tại Sơn Tây chỉ còn trên danh nghĩa, trung thành với Diêm Tích Sơn còn hơn cả với Tưởng Giới Thạch.[17]

Những khó khăn chồng chất như sự phản trắc của các lãnh chúa quân phiệt khắp Trung Hoa, cuộc nội chiến kéo dài với Đảng Cộng sản, hay mối đe dọa ngày càng gia tăng từ phía Nhật Bản, buộc Tưởng phải để Diêm tái nhậm chức Ủy viên Bình định năm 1932, rồi ủy viên Ủy ban Mông-Tạng. Năm 1934, Tưởng bay đến Thái Nguyên, tại đó ông ta ca ngợi chính quyền của Diêm có công giúp đỡ, ủng hộ Chính phủ Nam Kinh, trên thực tế là thừa nhân quyền thống trị Sơn Tây của Diêm.[18]

Mối quan hệ với Chính phủ Quốc dân về sau[sửa | sửa mã nguồn]

Sau 1931, Diêm vẫn giữ thái độ ủng hộ trên danh nghĩa với Chính phủ Nam Kinh, còn thực tế thì kiểm soát hoàn toàn Sơn Tây, lúc hợp tác lúc xung đột với phe Cộng sản trong tỉnh. Dù không trực tiếp tham gia, Diêm ủng hộ Sự biến Tây An 1936, khi Tưởng Giới Thạch bị Trương Học Lương bắt giữ, và chỉ được thả ra sau khi Tưởng đồng ý hòa đàm với Đảng Cộng sản và thành lập một "mặt trận thống nhất" cùng kháng Nhật. Trong thư gửi Trương Học Lương năm 1936, Diêm cho rằng mối bất hòa ngày càng gia tăng giữa Diêm và Tưởng là do Diêm lo ngại về cuộc xâm lược của Nhật Bản và vận mệnh của Trung Hoa, cũng như việc tập trung mọi nguồn lực để đàn áp cộng sản.[5] Chính trong Sự biến Tây An, Diêm tích cực tham gia vào các cuộc đàm phán, gửi phái viên để ngăn việc hành quyết Tưởng (và cuộc nội chiến mà Diêm tin rằng nhất định sẽ nổ ra sau khi Tưởng chết), trong khi vẫn thúc đẩy thành lập mặt trận thống nhất kháng Nhật.[19]

Quan hệ tài chính giữa Sơn Tây và chính phủ trung ương rất phức tạp. Diêm đã tạo ra được một tổ hợp công nghiệp nặng xung quanh Thái Nguyên, nhưng không công khai ra bên ngoài Sơn Tây, có lẽ là để đánh lừa Tưởng Giới Thạch. Dù đạt được những thành công nhất định trong công cuộc hiện đại hóa nền công nghiệp Sơn Tây, Diêm vẫn liên tiếp yêu cầu chính phủ trung ương hỗ trợ tài chính để dùng mở rộng đường sắt và những việc khác, nhưng đều bị từ chối. Khi Diêm từ chối nộp thuế muối (được sản xuất tại các công xưởng Sơn Tây) về cho chính phủ trung ương, Tưởng đáp trả bằng cách lũng đoạn thị trường muối ở Hoa Bắc với rất nhiều muối (sản xuất tại vùng duyên hải Trung Hoa) đến mức giá muối ở Hoa Bắc rớt thảm hại: do giá muối Hoa Bắc quá thấp, các tỉnh lân cận đều ngừng mua muối Sơn Tây. Năm 1935, Tưởng công bố một bản "kế hoạch 5 năm" để hiện đại hóa Trung Hoa, có lẽ là chịu nhiều ảnh hưởng từ "kế hoạch 10 năm" mà Diêm đề ra vài năm trước đó.[20]

Chính sách công[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Sơn Tây, Diêm thi hành hàng loạt cải cách với quyết tâm củng cố quyền thống trị của bản thân. Dù vẫn duy trì những giá trị truyền thống của tầng lớp địa chủ, ông phê phán sự bóc lột nông dân, và từng bước tiến hành cải cách ruộng đất và làm suy yếu thế lực của tầng lớp địa chủ nông thôn. Những cải cách này cũng làm suy yếu các lãnh chúa đối lập trong tỉnh.[1]

Diêm cố gắng xây dựng quân đội chuyên nghiệp từ lực lượng lính mộ địa phương, phải vì nhân dân chiến đấu chứ không phải là ông chủ của người dân. Ông phát triển một chủ thuyết riêng (tên là "Tư tưởng Diêm Tích Sơn") và tuyên truyền chủ thuyết này bằng cách tài trợ một mạng lưới báo chí cũng như những gánh hát rong. Ông tổ chức những buổi họp công cộng để người tham dự có thể tự thú nhận những việc làm sai trái của họ và/hoặc phê phán những việc làm xấu của người khác. Ông cũng lập ra một hệ thống giáo dục công, đào tạo một tầng lớp công nhân và nông dân lành nghề biết đọc viết đủ để truyền thụ kiến thức. Không phải đến thời kỳ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa những chính sách này mới được áp dụng, mà đã bắt đầu được Diêm thi hành ngay từ thời kỳ quân phiệt.[2]

Chính sách quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Diêm từ Nhật Bản trở về năm 1909, ông trở thành một nhà quân phiệt chủ nghĩa, và đề ra một hệ thống nghĩa vụ quân sự toàn quốc theo mô hình nước ĐứcNhật Bản. Thất bại của Đức trong Thế chiến I và thất bại của Diêm tại Hà Nam năm 1919 khiến Diêm thay đổi ý kiến về chủ nghĩa quân phiệt. Sau đó Diêm cắt giảm quân đội cho tới năm 1923 (để tiết kiệm ngân sách), khi một tin đồn lan ra rằng các lãnh chúa khác đang âm mưu xâm chiến Sơn Tây. Diêm liền tiến hành cải cách quân sự, tập trung huấn luyện 100,000 dân quân nông thôn theo kiểu lực lượng dự bị Nhật và Hoa Kỳ.[21]

Thông qua chế độ quân dịch, Diêm dự định tạo ra một lực lượng dân quân dự bị làm nền tảng cho xã hội Sơn Tây. Vì lực lượng của ông có lẽ là đội quân duy nhất trong thời kỳ quân phiệt được tuyển mộ tại địa phương, cũng như vì Diêm yêu cầu quân đội tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng Sơn Tây, như làm đường và giúp nông dân làm ruộng, và cũng vì kỷ luật nghiêm khắc của Diêm đảm bảo binh lính không được cướp giật hàng hóa tài sản của thường dân, đội quân Sơn Tây được sự ủng hộ mạnh mẽ hơn những lực lượng quân phiệt Trung Hoa.[14]

Bộ tham mưu của Diêm đều là những sĩ quan xuất thân địa chủ, từng trải qua 2 năm đào tạo được chính phủ chi trả. Dù Diêm rất nỗ lực để đưa những sĩ quan này vào khuôn khổ nghiêm khắc theo kiểu Nhật, cũng như truyền thụ Tư tưởng Diêm Tích Sơn cho họ, quân đội của ông không hề tỏ ra đặc biệt tinh nhuệ hay kỷ luật trong chiến tranh. Nhìn chung, thành tích của quân đội Diêm trên chiến trường không thật sự đáng tự hào, và các sĩ quan của Diêm cũng không thật sự quan tâm hay đồng cảm với binh lính, mà chỉ lo tranh giành quyền lực và tiền tài. Diêm xây dựng một xưởng vũ khí tại Thái Nguyên mà trong suốt giai đoạn ông cầm quyền luôn là xưởng sản xuất pháo dã chiết duy nhất tại Trung Hoa. Sự tồn tại của xưởng vũ khí này là một trong những nguyên nhân chính giúp Diêm giữ được nền độc lập nhất định của Sơn Tây.[14] Dù không thật sự thành công khi giao chiến với các lực lượng quân phiệt khác, quân đội của Diêm vẫn tiêu diệt được nạn thổ phỉ ở Sơn Tây, bảo đảm được trật tự và an ninh tương đối tốt.[22] Những thắng lợi của Diêm trong việc tiễu trừ thổ phỉ bao gồm liên minh với Viên Thế Khải để tiêu diệt tàn quân Bạch Lang sau khi cuộc nổi dậy Bạch Lang 1913-1914 thất bại.

Chính sách xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Diêm quyết tâm bài trừ những phong tục truyền thống mà ông cho là lỗi thời. Ông ra lệnh cho tất cả đàn ông Sơn Tây cắt bỏ đuôi sam của họ (từ thời nhà Thanh), lệnh cho cảnh sát cắt hết đuôi sam của bất cứ ai từ chối không chịu bỏ. Có lúc, Diêm còn lừa người dân vào các rạp hát rồi cho cảnh sát lần lượt cắt bím tóc của khán giả.[22] Diêm cũng nỗ lực bài trừ nạn mù chữ của phụ nữ bằng cách thành lập ít nhất một trường dạy nghề tại mỗi quận, ở đó các bé gái con nhà nông dân có thể được học tập những kĩ năng và kiến thức cơ bản. Sau thắng lợi của Quốc dân đảng năm 1925, tạo ra một làn sóng ủng hộ những tư tưởng Quốc dân, kể cả nữ quyền, Diêm cho phép phụ nữ được vào học tại các trường trung học và đại học, cũng như thành lập các hội phụ nữ tại những nơi đó.[21]

Diêm còn ra sức loại bỏ tập tục bó chân, đe dọa bắt những người đàn ông lấy vợ bó chân, và những người mẹ bó chân con gái mình, đi lao động trong các công xưởng. Ông cũng ngăn cản việc sử dụng âm lịch và khuyến khích phát triển các tổ chức hướng đạo địa phương. Cũng như những người Cộng sản sau này, Diêm trừng phạt những kẻ phạm pháp bằng "cải tạo qua lao động" trong các công xưởng.[22]

Chính sách thuốc phiện[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1916, ít nhất 10% trong số 11 triệu dân Sơn Tây nghiện thuốc phiện, điều này khiến Diêm quyết định phải tiêu diệt nạn thuốc phiện sau khi lên nắm quyền. Trước tiên, Diêm xử lý bọn buôn thuốc phiện và những người nghiện nặng, tống cổ những người nghiện nặng vào tù và đưa họ và gia đình họ ra trước công chúng để làm nhục. Rất nhiều người bị kết án chết vì bị cắt cơn đột ngột. Sau năm 1922, một phần do sự phản đối của công chống, Diêm từ bỏ chính sách trừng phạt, chuyển sang chính sách phục hồi nhân phẩm cho người nghiện, thông qua gia đình họ buộc họ phải bỏ thuốc phiện, và xây dựng các trại cai nghiện cho mục đích này.[23]

Những biện pháp chống thuốc phiện của Diêm đem lại hiệu quả to lớn, số lượng người nghiện tại Sơn Tây đã giảm thiểu đến 80% tính tới 1922. Tuy nhiên, trong khi những lãnh chúa quân phiệt khác chẳng làm gì để ngăn chặn nạn buôn bán và sử dụng thuốc phiện, những biện pháp này càng khiến giá thuốc phiện tăng vọt, và thuốc phiện từ khắp nơi được buôn lậu vào Sơn Tây bằng đủ mọi cách, phổ biến là chuyển sang sử dụng loại thuốc viên trộn giữa morphineheroin, vốn dễ dàng vận chuyển và sử dụng hơn. Vì những địa chủ thế lực nhất Sơn Tây thường là những kẻ cầm đầu đằng sau nạn thuốc phiện, các viên chức Sơn Tây vốn cũng xuất thân từ tầng lớp địa chủ quyền quý hiếm khi tuân theo lệnh Diêm, nhưng ông cũng chẳng mấy khi làm gì được họ vì không có bằng cớ. Cuối cùng Diêm đành từ bỏ những biện pháp chống thuốc phiện, chuyển sang chính sách theo đó chính quyền độc quyền sản xuất và buôn bán thuốc phiện tại Sơn Tây.[23] Diêm tiếp tục than phiền về việc thuốc phiện tràn lan cho tới những năm 1930, và sau năm 1932 đã xử tử hơn 600 kẻ buôn lậu thuốc phiện. Nạn buôn lậu vẫn tiếp diệt, nhưng Diêm dần dần từ bỏ quyết tâm đàn áp, có lẽ vì sợ khiêu khích người Nhật, vốn sản xuất phần lớn morphine và heroin tại Trung Hoa thời đó từ tô giới của họ tại Thiên Tân, cũng như kiểm soát phần lớn thị trường thuốc phiện tại Hoa Bắc trong những năm 1930.[24]

Những hạn chế[sửa | sửa mã nguồn]

Những nỗ lực phát triển kinh tế Sơn Tây của Diêm chủ yếu bao gồm những dự án đầu tư của chính quyền vào các ngành công nghiệp, và nhìn chung ông đã thất bại trong việc khuyên khích kinh doanh tư bản. Dù tỉnh hình kinh tế Sơn Tây được cải thiện đáng kể, những nỗ lực của Diêm vẫn bị giới hạn, bởi bản thân ông cũng không có mấy kiến thức về kinh tế hay công nghiệp. Diêm cũng không có những cố vấn giàu kinh nghiệm để có thể chỉ đạo những dự án dù chỉ tương đối phức tạp có liên quan đến kế hoạch phát triển kinh tế của ôn. Vì hầu hết ban tham mưu của ông đều xuất thân từ tầng lớp địa chủ, nhiều người trong số họ có thể đã phá hoại ngầm từ bên trong, khiến nông dân tiếp tục lao động cho họ với mức lương rẻ mạt.[25]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Gillin The Journal of Asian Studies 289
  2. ^ a ă â Gillin The Journal of Asian Studies 290
  3. ^ a ă Gillin The Journal of Asian Studies 291
  4. ^ a ă â Gillin The Journal of Asian Studies 292
  5. ^ a ă Spence 406
  6. ^ Gillin Warlord 18
  7. ^ Gillin The Journal of Asian Studies 302
  8. ^ Gillin Warlord 22
  9. ^ a ă â Gillin The Journal of Asian Studies 293
  10. ^ TIME Magazine Dec. 24, 1928. p.293
  11. ^ Gillin Warlord 111
  12. ^ TIME Magazine Sep. 29, 1930
  13. ^ Lin 22
  14. ^ a ă â Gillin The Journal of Asian Studies 294
  15. ^ TIME Magazine. May 19, 1930
  16. ^ Gillin Warlord 118-122
  17. ^ Gillin Warlord 122-123
  18. ^ Gillin Warlord 123-124
  19. ^ Gillin Warlord 339-241
  20. ^ Gillin Warlord 193
  21. ^ a ă Gillin Warlord 24
  22. ^ a ă â Gillin The Journal of Asian Studies 295
  23. ^ a ă Gillin Warlord 38-40
  24. ^ Gillin Warlord 138
  25. ^ Gillin The Journal of Asian Studies 305