Di dân Việt Nam sau 1975

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Bản mẫu:Cần nguồn tham kham Người tỵ nạn Việt Nam năm 1975 là 1 sự kiện lớn trong Lịch sử Việt Nam hiện đại. Thành phần di dân này đã tạo ra nhiều cộng đồng người Việt hải ngoại bên các nước Âu Mỹ. Hầu hết người Việt di dân sau năm 1975 vì những lý do kinh tế lẫn chính trị[cần dẫn nguồn].

Di dân Việt Nam ra hải ngoại[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 30 tháng 4 năm 1975 là ngày chính thể Việt Nam Cộng hòa sụp đổ, chiến tranh Việt Nam chấm dứt. Sau đó là hai đợt di dân lớn từ Việt Nam đến Hoa Kỳ và các nước Tây phương. Hơn 125.000 người Việt Nam đến Hoa Kỳ vào cuối xuân 1975 vì sợ chính quyền mới trả thù[cần dẫn nguồn]. Ngoài ra khoảng 20.000 người đến Âu Châu và các nước khác[cần dẫn nguồn].

Năm 1977 bắt đầu đợt thứ hai khi phong trào vượt biển tỵ nạn xảy ra. Làn sóng di dân này kéo dài cho đến giữa thập niên 1980 một phần vì vấn đề kinh tế khó khăn tại Việt Nam do chính sách của chính phủ và các thông tin của bên ngoài nước.

Số liệu người tỵ nạn Việt Nam từ sau ngày 30 tháng 4/1975[sửa | sửa mã nguồn]

1. Tháng 6-1975 đến 1979: 311.400. Ðường bộ có 14.600 qua ngả Campuchia, Thái Lan. Tổng cộng 326.000.[cần dẫn nguồn]

2. 1980 đến 1984: 242.000 thuyền nhân và 11.000 tỵ nạn đường bộ. Tổng cộng đợt 2 là 253.100. [cần dẫn nguồn]

3. 1985 đến 1989: 186.500 thuyền nhân và đường bộ 10.500. Tổng cộng 197.000. [cần dẫn nguồn]

4. 1990 đến 1995: 56.400 thuyền nhân và đường bộ 6.700. Tổng cộng 63.100. [cần dẫn nguồn]

Cộng chung 4 đợt ghi nhận được 796.300 thuyền nhân tỵ nạn và 42.900 đi đường bộ. Tổng kết từ cuối năm 1975 đến năm 1995 trải qua 20 năm đã có 839.200 người dân Việt rời bỏ Việt Nam đến các trại tỵ nạn. Con số những người chết trong biển Ðông và núi rừng biên giới Thái – Miên là các số thống kê không bao giờ ghi lại được. Con số ước lượng là từ 400.000 đến 500.000 người.[cần dẫn nguồn]

Người định cư tại các trại tỵ nạn[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng cộng thống kê ghi được trong suốt 20 năm từ 1975 đến 1995 các trại tỵ nạn Ðông Nam Á đã tiếp nhận và chuyển tiếp định cư các con số như sau[cần dẫn nguồn]:

  • Malaysia 254.000.
  • Hồng Kông 195.000.
  • Thái Lan 160.200.
  • Indonesia 121.700.
  • Philippines 51.700.
  • Singapore 32.500. Nhật Bản 11.100.
  • Macao 7.100.
  • Nam Hàn 1.400
  • Các nơi khác 3.200.

Tổng cộng cũng là con số 839.200 người của 4 đợt kể trên.

Ðịnh cư tại các quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hoa Kỳ 424.000.
  • Úc 111.000.
  • Canada 103.000.
  • Pháp 27.100.
  • Anh 19.300.
  • Tây Ðức 16.800.
  • Hà Lan 7.600.
  • Nhật 6.500.
  • Thụy Sỹ 6.200.
  • Na Uy 6.100.
  • Thụy Ðiển 6.000.
  • New Zealand 4.900.
  • Ðan Mạch 4.700.
  • Bỉ Quốc 2.000.
  • Phần Lan 1.900
  • Các nước khác 7.100.

Tổng cộng tính đến 1995 quốc tế đã nhận tổng số 754.800 tỵ nạn Việt Nam[cần dẫn nguồn]

Chương trình Ra đi có trật tự[sửa | sửa mã nguồn]

Kể từ 1990 đến nay, các chương trình đoàn tụ, đón tù cải tạo, con lai, tái định cư, tỵ nạn tình nguyện trở về đã đưa vào Mỹ và nhiều nước Tây phương các đợt di dân mới. Những người này không qua các trại tỵ nạn Ðông Nam Á. Riêng tại Hoa Kỳ, con số này tính đến 2005 lên đến 700.000 người và cộng với đợt di tản 1975 (130.000) và thuyền nhân (424.600). Theo thống kê dân số năm 2000[cần dẫn nguồn], hiện đang có 1.223.736 người Mỹ gốc Việt. Họ là nhóm di dân Á Châu lớn thứ năm sau các nhóm di dân Trung Hoa, Philippines, Ấn Ðộ và Ðại Hàn.

Xuất khẩu lao động[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]