Di sản thế giới

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Di sản Thế giới)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Di san the gioi.jpg
Lá cờ với biểu tượng Di sản thế giới
Khu phế tích đạo Phật ở Somapura Mahavihara (Bangladesh).
Persepolis, (Iran).
Di chỉ khảo cổ Copán (Honduras).
Hệ thống tưới tiêu ở Shushtar (Iran).
Uluru (Úc).
Chichen ItzaYucatán (Mexico).
Thành nhà Hồ (Việt Nam).
Vườn quốc gia Pantanal (Brazil).
Khu di tích núi Võ Đang (Trung Quốc).
Independence Hall (Hoa Kỳ)
Trung tâm lịch sử Colonia del Sacramento (Uruguay).
Vịnh hẹp Geirangerfjord (Na Uy).
Thác Victoria (biên giới Zambia và Zimbabwe).

Một Di sản thế giới do Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc ( viết tắt là UNESCO) công nhận là địa điểm hoặc những địa điểm có chung đặc điểm. Các địa điểm này có thể là rừng, dãy núi, hồ, sa mạc, tòa nhà, quần thể kiến trúc hay thành phố... do các nước có tham gia Công ước di sản thế giới đề cử cho Chương trình quốc tế Di sản thế giới, được công nhận bởi những giá trị văn hóa hay ý nghĩa vật lý đặc biệt và quản lý bởi Ủy ban Di sản thế giới của UNESCO. Ủy ban này bao gồm 21 quốc gia tham gia ký kết và phê chuẩn Công ước Di sản thế giới. Tính đến nay, có 190 quốc gia thành viên. Có Đại hội đồng Quốc gia thành viên với nhiệm kỳ 4 năm một lần để thảo luận về việc quản lý các di sản thế giới đã được công nhận, đồng thời xem xét việc chấp nhận một di sản mới được đề cử từ các quốc gia thành viên.[1]

Chương trình quốc tế Di sản thế giới sẽ lập danh mục, đặt tên và bảo tồn những vị trí nổi bật về văn hóa hay đặc điểm tự nhiên cho di sản nhân loại chung. Những vị trí được đưa vào danh sách di sản thế giới có thể được nhận tiền từ Quỹ Di sản thế giới theo một số điều kiện nào đó. Chương trình này được thành lập bởi Công ước về Bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, gọi tắt là Công ước Di sản thế giới, nó được Đại hội đồng UNESCO chấp nhận ngày 16 tháng 11 năm 1972.

Tính đến năm 2012, có tất cả 962 di sản được liệt kê, trong đó có 745 di sản về văn hóa, 188 di sản về những khu thiên nhiên và 29 di sản thuộc cả hai loại. Các di sản đó hiện diện tại 157 quốc gia. Ý là quốc gia có số lượng di sản thế giới được công nhận nhiều nhất với 47 di sản, tiếp theo là Tây Ban Nha với 44 di sản và Trung Quốc có 43 di sản.

Tuy di sản thế giới vẫn là một phần của lãnh thổ quốc gia đó nhưng UNESCO xem xét nó trên mối quan tâm của cộng đồng quốc tế để bảo vệ chúng trước những tác động có thể gây ra.

Mục lục

Lịch sử [sửa]

Năm 1954, chính phủ Ai Cập quyết định xây dựng đập Aswan (đập Aswan trên), một sự kiện sẽ khiến một thung lũng có chứa những kho báu vô giá của Ai Cập cổ đại như các ngôi đền Abu Simbel bị nhấn chìm trong biển nước. UNESCO sau đó đã phát động một chiến dịch bảo vệ các di tích này trên toàn thế giới. Abu Simbel và ngôi đền Philae đã được tháo rời, di chuyển đến một vị trí cao hơn, và xếp lại với nhau từng khối đá một, trong khi ngôi đền Dendur đã được chuyển đến thành phố New York [2] còn các đền thờ của Debod đã được chuyển đến Madrid.

Chi phí của dự án là 80 triệu USD, trong đó khoảng 40 triệu USD được vận động đóng góp từ 50 quốc gia. Dự án được coi là một thành công, và là nền tảng cho các chiến dịch bảo vệ khác, như Venice và vùng đầm phá ở Ý, tàn tích Mohenjo-daroPakistan, và đền BorobudurIndonesia. UNESCO sau đó thành lập Hội đồng Quốc tế về di tíchdi chỉ, cùng với một dự thảo quy ước bảo vệ di sản văn hóa chung của nhân loại.

Mỹ là quốc gia đầu tiên khởi xướng ý tưởng về bảo tồn văn hóa và thiên nhiên. Một hội nghị tại Nhà Trắng vào năm 1965 nhằm bảo tồn các khu vực tự nhiên tuyệt đẹp trên thế giới, danh lam thắng cảnh và các di tích lịch sử. Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên tổ chức một hội nghị tương tự vào năm 1968 và vào năm 1972 tại hội nghị Liên hợp quốc về Con người và Môi trường tại Stockholm. Theo Ủy ban di sản thế giới, các nước ký kết được yêu cầu cung cấp dữ liệu và báo cáo định kỳ cho Ủy ban Di sản thế giới tổng quan về việc thực hiện của mỗi quốc gia tham gia Công ước Di sản Thế giới và một "bản chụp hình ảnh" điều kiện hiện tại của các Di sản thế giới đã được công nhận.

Một văn bản duy nhất được thống nhất giữa tất cả các quốc gia tham gia, và Công ước liên quan đến bảo vệ Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới đã được thông qua bởi Đại hội đồng UNESCO vào ngày 16 tháng 11 năm 1972.

Định nghĩa [sửa]

Thác Elabana thuộc trong Vườn quốc gia Lamington, một phần của di sản thế giới Khu dự trữ rừng mưa nhiệt đới miền trung đôngQueensland, Úc

Di sản văn hóa [sửa]

Theo Công ước di sản thế giới thì di sản văn hóa là:

  • Các di tích: Các tác phẩm kiến trúc, tác phẩm điêu khắchội họa, các yếu tố hay các cấu trúc có tính chất khảo cổ học, ký tự, nhà ở trong hang đá và các công trình sự kết hợp giữa công trình xây dựng tách biệt hay liên kết lại với nhau mà do kiến trúc của chúng, do tính đồng nhất hoặc vị trí trong cảnh quan, có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật và khoa học.
  • Các di chỉ: Các tác phẩm do con người tạo nên hoặc các tác phẩm có sự kết hợp giữa thiên nhiên và nhân tạo và các khu vực trong đó có các di chỉ khảo cổ có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân chủng học.

Di sản thiên nhiên [sửa]

Theo Công ước di sản thế giới thì di sản thiên nhiên là:

  • Các đặc điểm tự nhiên bao gồm các hoạt động sáng tạo vật lý hoặc sinh học hoặc các nhóm các hoạt động kiến tạo có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm thẩm mỹ hoặc khoa học.
  • Các hoạt động kiến tạo địa chất hoặc địa lý tự nhiên và các khu vực có ranh giới được xác định chính xác tạo thành một môi trường sống của các loài động thực vật đang bị đe dọa có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm khoa học hoặc bảo tồn.

Di sản hỗn hợp [sửa]

Năm 1992, Ủy ban di sản thế giới đưa ra khái niệm di sản hỗn hợp hay còn gọi là cảnh quan văn hóa để miêu tả các mối quan hệ tương hỗ nổi bật giữa văn hóa và thiên nhiên của một số khu di sản.

Nguồn: Bộ Ngoại giao Việt Nam

Tiêu chuẩn [sửa]

Một di tích văn hóa phải xác thực, có ảnh hưởng sâu rộng hoặc có bằng chứng độc đáo đối với sự phát triển của nghệ thuật kiến trúc, hoặc di tích đó phải gắn liền với tư tưởng hay tín ngưỡng có ý nghĩa phổ biến, hoặc là điển hình nổi bật của một lối sống truyền thống đại diện cho một nền văn hóa nào đó.

Một di chỉ thiên nhiên có thể điển hình cho một giai đoạn, các quá trình tiến hóa địa cầu, hoặc cho những biến đổi sinh thái học, hoặc bao gồm những vùng cư trú tự nhiên các Loài cực kỳ nguy cấp. Di chỉ thiên nhiên có thể là một khung cảnh đẹp khác thường, một cảnh quan ngoạn mục, hoặc là một khu bảo tồn số lượng lớn các động vật hoang dã.

Cho đến cuối năm 2004, có 6 tiêu chí cho di sản văn hóa và 4 tiêu chí cho di sản thiên nhiên. Đến năm 2005, điều này đã được sửa đổi để chỉ có một bộ 10 tiêu chí, trong đó 6 tiêu chí đầu thuộc về di sản văn hóa, còn các tiêu chí 7 đến 10 thuộc về di sản thiên nhiên.

Tiêu chuẩn văn hóa

(I) - là một kiệt tác về tài năng sáng tạo của con người.

(II) - Thể hiện một sự giao lưu quan trọng giữa các giá trị của nhân loại, trong một khoảng thời gian hoặc trong phạm vi một vùng văn hoá của thế giới, về các bước phát triển trong kiến trúc hoặc công nghệ, nghệ thuật tạo hình, quy hoạch đô thị hoặc thiết kế cảnh quan.

(III) - Là một bằng chứng độc đáo hoặc ít nhất cũng là một bằng chứng ngoại hạng về một truyền thống văn hoá hoặc một nền văn minh đang tồn tại hoặc đã biến mất.

(IV) - Là một ví dụ nổi bật về một kiểu nhà hoặc một quần thể kiến trúc hoặc công nghệ hoặc một cảnh quan minh hoạ cho một hay nhiều giai đoạn có ý nghĩa trong lịch sử nhân loại.

(V) - Là một ví dụ nổi bật về một kiểu định cư truyền thống của con người hoặc một phương pháp sử dụng đất truyền thống, đại diện cho một nền văn hoá (hoặc các nền văn hoá), nhất là khi nó trở nên dễ bị tổn thương dưới tác động của những biến động không thể đảo ngược được.

(VI) - Gắn bó trực tiếp hoặc cụ thể với những sự kiện hoặc truyền thống sinh hoạt với các ý tưởng, hoặc các tín ngưỡng, các tác phẩm văn học nghệ thuật có ý nghĩa nổi bật toàn cầu.

Tiêu chuẩn tự nhiên

(I) - Là những ví dụ nổi bật đại diện cho những giai đoạn lớn trong lịch sử của trái đất, trong đó có lịch sử về sự sống, các quá trình địa chất quan trọng đang tiếp diễn trong sự phát triển của các địa mạo, hoặc các đặc điểm quan trọng về địa chất hoặc địa lý tự nhiên.

(II) - Là những ví dụ nổi bật đại diện cho các quá trình sinh tháisinh học đang tiếp diễn trong quá trình tiến hoá và phát triển của các hệ sinh thái đất, nước ngọt, vùng ven biển và biển và các quần xã động vật, thực vật.

(III) - Chứa đựng các hiện tượng tự nhiên siêu đẳng hoặc các khu vực có vẻ đẹp tự nhiên độc đáo và tầm quan trọng về thẩm mỹ

(IV) - Chứa đựng các môi trường sống tự nhiên có ý nghĩa và quan trọng nhất phục vụ việc bảo tồn nguyên trạng sự đa dạng sinh học, trong đó có những môi trường sống chứa đựng những loài đang bị đe dạo có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm khoa học hoặc bảo tồn.

Danh sách các di sản thế giới [sửa]

Khái quát [sửa]

UNESCO cố gắng tôn trọng sự cân bằng giữa các châu lục trong vấn đề di sản thế giới. Ban đầu, châu Âu chiếm số đông hơn, nhưng những di sản tự nhiên đã góp phần điều hòa sự cân bằng về mặt địa lý. Hiện nay có 962 di sản trên 157 quốc gia: 745 về văn hóa, 188 tự nhiên và 29 di sản hỗn hợp (tự nhiên và văn hóa). Những di sản này được xếp theo 5 vùng địa lý, trong đó Mexico mặc dù thuộc Bắc Mỹ nhưng các di sản được xếp vào Mỹ LatinhCaribe

Nga và các nước Caucasus được xếp vào khu vực Châu Âu và Bắc Mỹ

Bảng khái quát Di sản thế giới [3][4]
Văn hóa Tự nhiên Hỗn hợp Tổng số Số quốc gia trong khu vực
Châu Phi 47 35 4 86 32
Các nước Ả Rập 67 4 2 73 17
Châu Á - Thái Bình Dương 148 55 10 213[5] 32
Châu Âu - Bắc Mỹ 393 59 10 462[5] 50
Mỹ La Tinh - Caribe 90 35 3 128 26
Tổng số 745 188 29 962 157

Danh sách cụ thể [sửa]

Danh sách dưới đây được xếp theo 4 khu vực địa lý, các di sản tại Nga được xếp vào châu Âu và riêng, di sản tại Bắc Mỹ được xếp vào vào châu Mỹ Latinh và Caribê. Các di sản tại thuộc địa và vùng lãnh thổ hải ngoại thì vẫn xếp theo quốc gia đề cử và chính quốc. Các nước Ả rập bao gồm một số quốc gia thuộc châu Phi và một số quốc gia thuộc Trung Đông được xếp vào khu vực châu Á và châu Đại Dương.

Di sản thế giới trong tình trạng nguy hiểm [sửa]

Khi một di sản văn hóa hay thiên nhiên có nguy cơ tiêu vong hay hủy hoại nặng nề do bị xuống cấp mạnh bởi các nguyên nhân như: phát triển kinh tế, xã hội, các nguyên nhân tự nhiên (thiên tai, lũ lụt, động đất, độ ẩm cao, quá nóng v.v) thì di sản đó sẽ được ghi vào danh mục "Những di sản trong tình trạng nguy hiểm" để cảnh báo quốc gia, vùng lãnh thổ có di sản đó phải có các biện pháp bảo tồn khẩn cấp cũng như để Ủy ban Di sản thể giới cung cấp các sự hỗ trợ cần thiết về kinh phí, kỹ thuật v.v từ Quỹ Di sản thế giới để bảo tồn các di sản đó.

Trong danh sách năm 2012 có 39 di sản thế giới của 30 quốc giavùng lãnh thổ được xếp vào danh mục "Những di sản trong tình trạng nguy hiểm". Cụ thể xem tại [1].

Xem thêm [sửa]

Tài liệu tham khảo [sửa]

  1. ^ “The World Heritage Committee”. UNESCO World Heritage Site. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2006. 
  2. ^ Brief History, UNESCO World Heritage Sites official sites.
  3. ^ Stats
  4. ^ World Heritage List
  5. ^ a b The Uvs Nuur basin located in Mongolia and Russia is here included in Asia-Pacific zone.

Liên kết ngoài [sửa]

Tiếng Anh
Tiếng Việt