Dorayaki

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Dorayaki

Dorayaki (tiếng Nhật: どら焼き, どらやき, 銅鑼焼き, ドラ焼き) là một thứ bánh cổ truyền Nhật Bản. Nó có hình dáng giống như bánh bao, bao gồm 2 lớp vỏ bánh tròn dẹt làm từ bột, phết mật ong, được nướng lên và bao lấy nhân thường làm từ bột nhão đậu đỏ.

Ban đầu loại bánh này chỉ có một lớp, hình dạng như ngày nay là do Ueno Usagiya sáng tạo ra vào năm 1914. Trong tiếng Nhật, Dora (銅鑼) có nghĩa là cồng, chiêng, và tên gọi của loại bánh này có lẽ cũng bởi nó giống với những nhạc cụ này.

Truyền thuyết kể rằng một samurai có tên Benkei đã bỏ quên chiếc chiêng (dora) của anh ta khi rời khỏi nhà của một người nông dân, nơi anh ta ẩn náu. Người nông dân sau đó đã dùng chiếc chiêng bị bỏ lại rán ra những chiếc bánh, và từ đó gọi chúng là Dorayaki.

Tên khác[sửa | sửa mã nguồn]

Ở vùng Kansai, như Osaka hay Nara, loại bánh này thường được gọi là mikasa (三笠). Từ này có nghĩa là mũ rơm ba lớp, nhưng cũng là một tên khác của núi Wakakusa, một ngọn đồi thấp với dốc lên thoai thoải ở Nara. Nhiều người dân địa phương hình dung ra hình thù ngọn núi khi ăn mikasa. Ở Nara, loại mikasa lớn với đường kính khoảng 30 cm phổ biến hơn.

Làm bánh[sửa | sửa mã nguồn]

Sau đây là cách để làm bánh rán:

Vật Liệu[sửa | sửa mã nguồn]

Bên trong Dorayaki

Vỏ[sửa | sửa mã nguồn]

  1. 1 gói bột mì
  2. 1/2 bát đường
  3. 1/2 gói bột nổi
  4. 1 bát nước.
  5. Mè trắng một gói.
  6. Dầu để chiên bánh

Nhân[sửa | sửa mã nguồn]

  1. 1 gói đậu
  2. 1 chén đường

Cách Làm[sửa | sửa mã nguồn]

Để bột vào thau, trộn bột nổi, đường, tí muối cho thật đều, rây bột cho nhuyễn. Cho nước vào từ từ, nhồi thật mạnh tay, đến khi bột không dính vào tay nữa, nhúng khăn giấy đậy lên chậu bột, cho bột nghỉ 1 tiếng. Lấy bột ra bắt bánh. Chia bột cho thật đều, cán dẹp để nhân vào giữa se tròn, lăn vào mè.
Trong lúc đợi bột nấu đậu xanh đã đãi vỏ cho chín giã nhuyễn đảo với đường trên bếp cho đều, bắc nồi nhân xuống, cho vani vào, chia nhân cho đều sẵn sàng để bắt bánh.
Để chảo dầu thật nóng thả bánh vào dầu, dùng đũa lăn bánh cho vàng đều lấy ra. Bánh này ăn nóng, nếu dư cất tủ đá, khi ăn chỉ cần bỏ vào oven nướng lại.

Dorayaki trong văn hoá-nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Hình nộm Đôrêmon cạnh Dorayaki

Trong bộ truyện tranh cùng tên, chú mèo máy Đôrêmon được cô bạn mèo ở thế kỉ XXII mời ăn bánh lần đầu tiên và kể từ đó rất thích món ăn này. Đây là một kiểu chơi chữ, mặc dù tên của chú mèo máy này (Doraemon) không phải xuất phát từ dorayaki mà là từ doraneko (mèo lạc). Ở Việt Nam, bánh Dorayaky trong truyện Đôrêmon được gọi là bánh rán. Từ năm 2000, công ty Bunmeido hằng năm đã kinh doanh một loại bánh dorayaki với tên gọi Doraemon dorayaki giữa tháng 3 và tháng 12.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]