Edin Džeko

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Edin Džeko
Dzeko city.jpg
Edin Džeko khi chơi cho Manchester City năm 2011
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Edin Džeko
Ngày sinh 17 tháng 3, 1986 (28 tuổi)
Nơi sinh Sarajevo, Nam Tư
Chiều cao 1,92 m (6 ft 3 12 in)
Vị trí Tiền đạo
Thông tin về CLB
CLB hiện nay Manchester City
Số áo 10
CLB trẻ
1996–2003 Željezničar
CLB chuyên nghiệp*
Năm CLB ST (BT)
2003–2005 Željezničar 40 (5)
2005–2007 Teplice 43 (16)
2005 Ústí nad Labem (loan) 15 (6)
2007–2011 VfL Wolfsburg 111 (66)
2011– Manchester City 76 (30)
Đội tuyển quốc gia
2003–2004 Bosnia and Herzegovina U19 5 (0)
2006–2007 Bosnia and Herzegovina U21 4 (1)
2007– Bosnia and Herzegovina 54 (29)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng được ghi ở giải Vô địch quốc gia cập nhật lúc 22:26, 14 May 2013 (UTC).

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật lúc 12:14, 8 June 2013 (UTC)

Edin Džeko (sinh ngày 17 tháng 3 năm 1986Sarajevo) là một cầu thủ bóng đá người Bosnia hiện đang là tiền đạo của đội bóng thuộc Manchester City F.C.đội tuyển Bosnia và Herzegovina.Trước khi gia nhập sân Volkswagen Arena vào năm 2007, anh chơi cho FK ŽeljezničarFK Teplice và một giai đoạn được đem cho FK Ústí nad Labem mượn.

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Dzeko có trận ra mắt ở FK Željezničar trong vai trò một tiền vệ từ năm 2003-2005, ghi 1 bàn trong tổng cộng 40 trận. Anh có thời gian được đem cho FK Ústí nad Labem mượn vào năm 2005, trong quãng thời gian này anh ghi 6 bàn trong 15 trận. Cuối năm đó, anh chuyển tới Cộng hòa Séc để chơi ho FK Teplice và anh chơi ở đó cho tới năm 2007, ghi 16 bàn trong 43 trận. Anh là vua phá lưới ở mùa giải 2006-07.Nhờ có thành tích này, huấn luyện viên Felix Magath của VfL Wolfsburg quyết định chiêu mộ anh với giá 4 triệu Euro.

VfL Woflsburg[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi chuyển tới Woflsburg, Dzeko ngay lập tức tạo được ấn tượng, ghi 5 bàn và ó 3 pha kiến tạo trong 12 trận. Anh được tạp chí Sportal bầu chọn là tiền đạo hay nhất của nửa đầu mùa giải 2007-08.Trong mùa bóng đầu tiên của anh ở Đức, Woflsburg về đích ở vị trí thứ 5, được lọt vào vòng sơ loại cúp UEFA ở mùa giải 2008-09.Dzeko kết thúc mùa giải 2007-08 với 8 bàn thắng và 7 đường kiến tạo trong 17 trận ra sân.

Sau khi Woflsburg chiêu một cầu thủ đồng hương của Dzeko là Zvjezdan Misimović, màn trình diễn của Dzeko trong mùa giải thứ hai đã được cải thiện. Mặc dù có bước khởi đầu không tốt ở giai đoạn lượt đi, anh và các đồng đội đã tìm lại được phong độ và vô địch Bundesliga lần đầu tiên. Vào tháng 5 năm 2009, Dzeko lập cú hattrick vào lưới TSG 1899 Hoffeinhem, và một cú hattrick khác trong trận gặp Hannover 96 chỉ hai tuần sau, đóng góp vào chức vô địch vô cùng thuyết phục ở mùa giải 2008-09.Anh kết thúc mùa giải với tổng cộng 26 bàn thắng, chỉ đứng sau người đồng đội Grafite.Cùng với Grafite, họ trở thành cặp đôi tiền đạo nguy hiểm nhất trong lịch sử Bundesliga[1].Anh kết thúc mùa giải 2008-09 với 26 bàn và 10 đường kiến tạo trong 32 trận ở giải quốc nội. Ở cúp quốc gia Đức, anh có 6 bàn trong 2 trận, và ở cúp UEFA, anh có 4 bàn cùng 2 đường kiến tạo trong 8 trận. Màn trình diễn này đã giúp anh được công nhận là Cầu thủ xuất sắc nhất nước Đức[2].Màn trình diễn ấn tượng của anh đã thu hút nhiều sự chú ý của các câu lạc bộ hàng đầu châu Âu. Vào ngày 28 tháng 6 năm 2009, AC Milan đánh tiếng muốn có tiền đạo người Bosnia; Đội bóng Đức sau đó từ chối mọi lời đề nghị và khẳng định việc Dzeko sẽ ở lại bằng bản hợp đồng tới tháng 6 năm 2013.[3][4]

Manchester City[sửa | sửa mã nguồn]

Sau nhiều đồn đoán, Roberto Mancini, huấn luyện viên Manchester City, xác nhận ngày 3 tháng Một 2011 mức phí 27 triệu £(32 triệu €) đã được chi cho Wolfsburg để có Džeko, đó là con số chuyển nhượng cao thứ 2 của Man City, sau Robinho với trị giá 32.5 triệu £ (42.5 triệu €) chuyển đến từ Real Madrid năm 2008. mức chuyển nhượng cao thứ 6 tại Premier League.[5]

Thi đấu quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Lần đầu tiên Dzeko ra sân cho đội tuyển Bosnia và Herzegovina là cùng đội U-19 vào năm 2003.Trận đầu tiên là gặp Kazakhstan.Anh cũng là thành viên đội U21 và chơi ở trận playoff để tham dự giải U21 vào năm 2007 ở Hà Lan. Thử thách đầu tiên của Bosnia là Armenia và Na Uy. Họ thắng Armenia 3-2 và hoà Na Uy 1-1, điều này giúp họ được vào vòng playoff gặp cộng hoà Séc. Ở trận lượt đi, Bosnia thua 2-1; ở trận lượt về, trận đấu kết thúc với tỉ số 1-1.

Anh có trận ra mắt trong màu áo đội tuyển ở trận gặp Thổ Nhĩ Kỳ vào ngày 2 tháng 6 năm 2008.Đó là trận ra mắt đáng nhớ cho cầu thủ trẻ này, khi ở trận này anh thực hiện cú volley ngoạn mục vào lưới ở phút bù giờ hiệp một. Bàn thắng giúp Bosnia cân bằng tỉ số 2-2 và họ vượt lên để thắng 3-2[6].Anh ghi 7 bàn ở vòng loại World Cup 2010 và hiện là người ghi nhiều bàn thứ hai ở vòng loại, sau Wayne Rooney của Anh[7] .

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới 14 tháng Năm 2013.
CLB Giải đấu Cúp League Cup Châu lục Tổng
Mùa CLB Giải đấu Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn
Bosnia-Herzegovina Giải đấu Bosnian Cup League Cup Châu Âu Tổng
2003–04 Željezničar Premier League 20 4 0 0 0 0 20 4
2004–05 20 1 0 0 1 0 21 1
Séc Giải đấu Cúp Séc League Cup Châu Âu Tổng
2005–06 Ústí nad Labem Czech 2. Liga 15 6 0 0 15 6
2005–06 Teplice Gambrinus liga 13 3 0 0 13 3
2006–07 30 13 0 0 2 0 32 13
Đức Giải đấu DFB-Pokal Khác Châu Âu Tổng
2007–08 Wolfsburg Bundesliga 28 8 5 1 33 9
2008–09 32 26 2 6 8 4 42 36
2009–10 34 22 2 2 12 5 48 29
2010–11 17 10 2 1 19 11
Anh Giải đấu FA Cup League Cup Châu Âu Tổng
2010–11 Manchester City Premier League 15 2 2 2 0 0 4 2 21 6
2011–12 30 14 0 0 4 3 8 1 42 19
2012–13 31 14 5 0 1 0 6 1 43 15
Tổng Bosnia và Herzegovina 40 5 0 0 1 0 41 5
Séc 58 22 0 0 2 0 60 22
Đức 111 66 11 10 20 9 142 85
Anh 76 30 7 2 5 3 18 4 106 40
Tổng sự nghiệp 285 123 18 12 5 3 41 13 349 152
  • Bao gồm bàn thắng và trận đấu tại FA Community Shield 2011.

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Grafite And Dzeko - A Match Made In Heaven”. Goal.com. 23 tháng 5 năm 2009. Truy cập 19 tháng 6 năm 2009. 
  2. ^ “Dzeko may stay at Wolfsburg”. FIFA.com. 3 tháng 6 năm 2009. Truy cập 19 tháng 6 năm 2009. 
  3. ^ “Dzeko delight at new deal”. Sky Sports. 1 tháng 8 năm 2009. Truy cập 5 tháng 8 năm 2009. 
  4. ^ “Dzeko extends until 2013”. VfL Wolfsburg. 1 tháng 8 năm 2009. Truy cập 5 tháng 8 năm 2009. 
  5. ^ “Shine on you, crazy diamond”. Sarajevo-x.com. 15 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2011. 
  6. ^ Jody Houton and Ann Gripper. “Edin Dzeko profile: 10 things you need to know about the Arsenal target”. Mirror.co.uk. Truy cập 6 tháng 6 năm 2009. 
  7. ^ “2010 World Cup Qualifying Statistics”. FIFA.com. Truy cập 19 tháng 6 năm 2009. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]