Edwin van der Sar

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Edwin van der Sar
Edwin van der Sar side.jpg
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Edwin Van der Sar
Ngày sinh 29 tháng 10, 1970 (43 tuổi)[1]
Nơi sinh Voorhout, Hà Lan[2]
Chiều cao 1,97 m (6 ft 5 12 in)
Vị trí Thủ môn (đã giải nghệ)
Số áo 1
CLB trẻ
1980-1985 Foreholte[3]
1985-1990 VV Noordwijk[3]
CLB chuyên nghiệp*
Năm CLB ST (BT)
1990–1999 Ajax 226 (1)
1999–2001 Juventus 66 (0)
2001–2005 Fulham 127 (0)
2005–2011 Manchester United 173 (0)
Đội tuyển quốc gia
1995–2008 Hà Lan 130 (0)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng được ghi ở giải Vô địch quốc gia cập nhật lúc 22:56, 23 tháng 1 năm 2011 (UTC).
† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

Edwin van der Sar (phát âm tiếng Hà Lan: [ɛdʋɪŋ vɑŋ dər sɑr]) (sinh ngày 29 tháng 10 năm 1970[2]) là một cựu cầu thủ bóng đá người Hà Lan chơi ở vị trí thủ môn. Anh là cầu thủ khoác áo Đội tuyển bóng đá quốc gia Hà Lan nhiều nhất trong lịch sử.

Van der Sar bắt đầu thi đấu chuyên nghiệp tại Ajax và ở lại đây trong 9 năm trước khi chuyển đến clb Juventus và sau đó sang Anh, đầu tiên là Fulham và tiếp đó là Manchester United. Anh là một trong số ít các cầu thủ đã vô địch UEFA Champions League với 2 câu lạc bộ khác nhau, Vô địch với Ajax năm 1995 và Manchester United năm 2008. Anh cũng đã giành được cúp UEFA với Ajax năm 1992. Van der Sar đã được trao giải Thủ môn xuất sắc nhất Châu Âu vào năm 1995 và 2009, 14 năm kể từ lần đầu tiên anh vô địch Champions League cho tới lần thứ 2.

Sự nghiệp Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Ajax[sửa | sửa mã nguồn]

Sinh ra ở Voorhout, Van der Sar bắt đầu sự nghiệp của mình tại câu lạc bộ quê nhà, Foreholte, và sau đó là vv Noordwijk. Anh nhận được sự chú ý của huấn luyện viên Louis van Gaal, và được đưa về Ajax khi đã ở độ tuổi tương đối muộn. Mặc dù gia nhập muộn và phải thi đấu ở đội dự bị,anh vẫn nỗ lực trong khoảng thời gian này trước khi được Louis van Gaal gọi lên đội một. Anh đã có được những thành công lớn tại Ajax với chức vô địch UEFA Cup 1992Champions League 1995, cùng với đó là danh hiệu Thủ môn xuất sắc nhất châu Âu năm 1995. anh là người trấn giữ khung thành cho Ajax trong trận chung kết Champions League 1996, trận đấu mà họ đã để thua Juventus trong loạt luân lưu và trở thành nhà cựu vô địch. anh đã ra sân tổng cộng 226 lần và ghi một bàn trên chấm phạt đền cho Ajax để hoàn tất chiến thắng 8–1 trước De Graafschap trong mùa giải 1997–98.

Juventus[sửa | sửa mã nguồn]

năm 1999, Van der Sar chuyển tới câu lạc bộ Juventus, tại đây anh đã có 66 lần ra sân ở Serie A trước khi mất vị trí trong đội hình vào tay Gianluigi Buffon. Anh đã trở thành cầu thủ đầu tiên không phải người Ý trấn giữ khung thành cho câu lạc bộ Turin. Mặc dù nhận được nhiều sự quan tâm của các câu lạc bộ lớn trên khắp châu Âu, van der Sar đã quyết định chuyển tới câu lạc bộ Fulham, tại giải ngoại hạng Anh.

Fulham[sửa | sửa mã nguồn]

Van der Sar ở Fulham.

Không bằng lòng với việc ngồi ghế dự bị ở Juventus, Van der Sar đã chuyển tới câu lạc bộ Fulham vào năm 2001 với mức phí khoảng 7.1 triệu £ [4] và hợp đồng có thời hạn 4 năm. Tại Fulham, anh đã ra sân được 172 lần. Phong độ thi đấu của anh cho Fulham đã lọt vào mắt xanh của một trong những câu lạc bộ lớn nhất trên thế giới, Manchester United và nhận được sự chú ý của huấn luyện viên Alex Ferguson.

Manchester United[sửa | sửa mã nguồn]

Van der Sar chuyển đến Manchester United vào ngày 10 tháng 6 năm 2005[5] với khoản phí được công bố là 2 triệu £, mặc dù mức phí chuyển nhượng không được tiết lộ chính xác[6]. Huấn luyện viên Manchester United Sir Alex Ferguson coi anh là thủ môn xuất sắc nhất từng chơi cho câu lạc bộ kể từ thời Peter Schmeichel.[7]

Van der Sar đang thi đấu cho Manchester United

vào ngày 5 tháng 5 năm 2007, anh đã cản phá thành công quả phạt đền giúp đội bóng của mình giành thắng lợi 1–0 trước Manchester City trong trận derby thành Manchester. ngày hôm sau, Chelsea đã thất bại trong việc đánh bại Arsenal trên sân Emirates qua đó đem đến danh hiệu vô địch ngoại hạng Anh lần thứ 9 cho Manchester United và lần đầu tiên cho Van der Sar. Anh cũng có tên trong danh sách đội hình của nămmùa giải 2006–07.[8] 3 tháng sau, anh trở thành nhân tố chính cho danh hiệu siêu cúp Anh thứ 16 của Manchester United, bằng việc cản phá liên tiếp 3 quả phạt đền trong loạt sút luân lưu sau khi Manchester United và Chelsea hòa 1–1 trong thời gian thi đấu chính thức.[9]

mùa giải 2007-08 là mùa giải tốt nhất của Van der Sar kể từ khi anh chuyển đến câu lạc bộ, anh thể hiện một phong độ thi đấu xuất sắc mặc dù bị dính chấn thương háng. Anh đã giúp Manchester United bảo vệ được danh hiệu ngoại hạng anh và vô địch Champions League bằng việc cản phá được cú sút phạt cuối cùng của Nicolas Anelka trong loạt luân lưu.[10]

Van der Sar đã ký gia hạn một năm hợp đồng hiện tại của anh với Manchester United vào ngày 12 tháng 12 năm 2008, Qua đó giữ anh ở câu lạc bộ ít nhất cho đến khi kết thúc mùa giải 2009-10[11].

Van der Sar ký tặng người hâm mộ sau trận đấu với FC Barcelona tháng 4 năm 2008.

27 tháng 1 năm 2009, với chiến thắng 5-0 của MU trước West Bromwich Albion, Van der Sar đã trải qua 11 trận và 1,032 phút mà không bị thủng lưới bàn nào.Qua đó thiết lập kỉ lục giữ sạch lưới mới của câu lạc bộ và giải ngoại hạng Anh, đánh bại kỉ lục trước đó là 10 trận và 1,025 phút được lập bởi thủ môn Petr Čech trong mùa giải 2004–05. Tiếp đấy anh đã phá vỡ kỉ lục toàn giải Anh trong trận đấu 4 ngày sau đó, vượt qua kỉ lục 1,103 phút, lập nên vào năm 1979 bởi thủ môn Steve Death của câu lạc bộ Reading.[12] trong trận đấu gặp West Ham vào ngày 8 tháng 2 năm 2009, kỉ lục đã được tăng lên 1,212 phút, đánh bại kỉ lục 1,155 phút giữ sạch lưới toàn Vương Quốc Anh được Bobby Clark lập ra vào năm 1971.[13] Cuối cùng, ngày 18 tháng hai năm 2009, Van der Sar tiếp tục kéo dài kỉ lục đến 1302 phút, qua đó, đã phá vỡ kỉ lục thế giới của José María Buljubasich là 1,289 phút, lập ra năm 2005.[14][15] kỉ lục giữ sạch lưới của anh kết thúc vào ngày 4 Tháng 3, khi anh mắc sai lầm để cầu thủ Peter Løvenkrands của clb Newcastle United ghi bàn ở phút thứ 9. tổng cộng, Van der Sar đã trải qua 1,311 phút không để thủng lưới tại giải đấu này.[16]. Với tất cả 21 lần giữ sạch lưới anh cũng đã giành giải Găng tay vàng Barclays mùa giải 2008–09. mặc dù vậy, anh đã lỡ mất cơ hội giành danh hiệu vô địch Champions League lần thứ 3 bởi thất bại 2–0 dưới tay của Barcelona ngày 27 tháng 5,2009. Tuy nhiên, anh đã giành giải Thủ môn xuất sắc nhất Châu Âu của UEFA lần thứ 2, 14 năm sau khi anh giành được giải thưởng này lần đầu tiên tại Ajax.

Van der Sar dính chấn thương ngón tay tại giải đấu trước thềm mùa giải - Audi Cup, khiến anh phải bỏ lỡ 12 trận của mùa giải 2009-10.[17] 6 tháng 10, 2009, Van Der Sar quay trở lại, chơi đủ 90 phút cho đội dự bị trong trận gặp Everton.[18] ngày 17 tháng 10 năm 2009, anh quay trở lại thi đấu cho đội hình chính trong chiến thắng 2-1 của Manchester trước Bolton Wanderers.[19] ngày 21 tháng 11 năm 2009, Van Der Sar lại dính chấn thương lần nữa, đồng thời vợ của anh cũng bị xuất huyết não ngay trước dip Giáng sinh. ngày 16 tháng 1 năm 2010, Van Der Sar trở lại thi đấu trong trận thắng 3-0 trước Burnley.[20]

Van der Sar đã tiếp tục gia hạn hợp đồng với Manchester United thêm 1 năm nữa vào ngày 26 tháng 2 năm 2010, giữ anh ở câu lạc bộ cho đến khi kết thúc mùa giải 2010-11.[21]

Ngày 23 tháng 12 năm 2010, có thông tin cho rằng Van der Sar có thể sẽ nghỉ hưu vào cuối mùa giải 2010-11.[22]

Van Der Sar giã từ sân cỏ sau khi chơi trận đấu cuối cùng cho Manchester United là trận chung kết Champion League mùa giải 2010-2011. Trong mùa giải này anh góp công giúp Manchester United đoạt danh hiệu vô địch ngoại hạng Anh lần thứ 19, trở thành câu lạc bộ giàu thành tích nhất nước Anh

Sự nghiệp quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Van der Sar có mặt trong đội hình đội tuyển Hà Lan tham dự World Cup 1994 nhưng lại không được thi đấu. Anh đã phải chờ đến ngày 7 Tháng 6 năm 1995 cho lần ra mắt quốc tế của mình, gặp đội tuyển Belarus. Anh đã ghi bàn từ chấm phạt đền trong 3 vòng đấu loại liên tiếp tại các giải đấu quan trọng như: Euro 1996, World Cup 1998Euro 2000. World Cup 2002 là giải đấu lớn đầu tiên mà anh không được tham dự do Đội tuyển Hà Lan đã thất bại trong việc giành vé đến Nhật Bản - Hàn Quốc sau khi không thể cạnh tranh được với đội tuyển Bồ Đào Nhađội tuyển CH.Ireland.

Euro 2004[sửa | sửa mã nguồn]

Tại tứ kết Euro 2004, trong loạt sút luân lưu với Thụy Điển, Van der Sar đã cản phá được một quả sút penalty của Olof Mellberg, giúp Hà Lan giành chiến thắng 5–4 trên chấm phạt đền[23], tuy vậy trong trận bán kết Đội tuyển Hà Lan đã để thua đội tuyển Bồ Đào Nha.[24]

World Cup 2006[sửa | sửa mã nguồn]

Van der Sar tại World Cup 2006.

trước trận đấu vòng bảng World Cup 2006 gặp Bờ Biển Ngà, Van der Sar đã không để lọt lưới bàn nào trong 9 trận liên tiếp. là đội trưởng của Hà Lan, anh đã phá vỡ kỉ lục khoác áo đội tuyển nhiều nhất của Frank de Boer trong vòng đấu thứ 2 gặp Bồ Đào Nha.[25]

Euro 2008[sửa | sửa mã nguồn]

Edwin van der Sar đang luyện tập với đội tuyển Hà Lan trước Euro 2008.

Vào sinh nhật lần thứ 37 của mình, Van der Sar, trong cuộc phỏng vấn với Radio 538, đã tiết lộ rằng anh có ý định giã từ sự nghiệp thi đấu quốc tế sau kì Euro 2008.[26] Trước giải đấu, anh là người đã chấm dứt cuộc tranh chấp kéo dài giữa tiền đạo kì cựu Ruud van Nistelrooy và huấn luyện viên Marco van Basten.[27] Anh mang băng đội trưởng trong chiến thắng 3–0 đầy ấn tượng trước Italy vào ngày 9 tháng 6 năm 2008 và trong trận thắng 4–1 trước Pháp ngày 13 tháng 6. Ngày 21 tháng 6, anh chơi trong trận tứ kết gặp đội tuyển Nga,trận đấu kết thúc với tỉ số 3-1 nghiêng về đội tuyển Nga và đây cũng được cho là trận đấu quốc tế cuối cùng của anh.[28] Đây là lần ra sân thứ 16 của anh tại vòng chung kết giải vô địch châu Âu, ngang bằng với kỉ lục được lập ra ít ngày trước đó bởi Lilian Thuram.

Vòng loại World Cup 2010[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 3 Tháng 10 năm 2008, trước sự thuyết phục của huấn luyện viên Bert van Marwijk, Van der Sar đã đồng ý quay trở lại thi đấu cho Hà Lan tại Vòng loại World Cup 2010 trận gặp IcelandNauy sau khi 2 thủ môn Maarten Stekelenburg,Henk Timmer dính chấn thương và không thể tham gia các trận đấu đó.[29] Van der Sar đã giữ sạch lưới ở cả 2 trận, đồng thời Hà Lan cũng thắng với tỉ số 2–0 và 1–0.

cuộc sống cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Van der Sar kết hôn với Annemarie van Kesteren vào ngày 20 tháng 5 năm 2006 tại Beurs van Berlage, Amsterdam.[30] Họ có 2 đưa con: một trai, Joe, và một gái, Lynn. tháng 12 năm 2009, vợ của anh đã phải nhập viện,hai ngày trước giáng sinh.[31] Các báo cáo nói rằng Annemarie đã bị xuất huyết não và đang trong tình trạng hiểm nghèo,may thay cô ấy sau đó đã hồi phục hoàn toàn.[32]

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ Mùa giải Giải Cúp League Cup Châu Âu Khác[33] Tổng cộng
Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn
Ajax 1990–91 9 0 0 0 9 0
1991–92 0 0 0 0 0 0
1992–93 19 0 3 0 22 0
1993–94 32 0 6 0 38 0
1994–95 33 0 11 0 44 0
1995–96 33 0 9 0 2 0 44 0
1996–97 33 0 10 0 43 0
1997–98 33 1 8 0 41 1
1998–99 34 0 6 0 40 0
Tổng cộng 226 1 53 0 2 0 281 1
Juventus 1999–2000 32 0 3 0 11 0 0 0 46 0
2000–01 34 0 2 0 6 0 0 0 42 0
Tổng cộng 66 0 5 0 17 0 0 0 88 0
Fulham 2001–02 37 0 4 0 0 0 0 0 0 0 41 1
2002–03 19 0 0 0 0 0 11 0 0 0 30 0
2003–04 37 0 6 0 0 0 0 0 0 0 43 0
2004–05 34 0 5 0 1 0 0 0 0 0 40 0
Tổng cộng 127 0 15 0 1 0 11 0 0 0 154 1
Manchester United 2005–06 38 0 2 0 3 0 8 0 0 0 51 0
2006–07 32 0 3 0 0 0 12 0 0 0 47 1
2007–08 29 0 4 0 0 0 10 0 1 0 44 0
2008–09 33 0 2 0 0 0 10 0 4 0 49 0
2009–10 21 0 0 0 2 0 6 0 0 0 29 0
2010–11 33 0 2 0 0 0 9 0 1 0 45 0
Tổng cộng 186 0 13 0 5 0 55 0 6 0 265 0
Tổng sự nghiệp 605 1 56 0 6 0 138 0 14 0 819 1

Số liệu thống kê chính xác tới ngày 22 tháng 5 năm 2011[34]

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

[35] [36]

Đội tuyển bóng đá Hà Lan
Năm Trận Bàn
1995 5 0
1996 10 0
1997 6 0
1998 14 0
1999 8 0
2000 12 0
2001 9 0
2002 6 0
2003 8 0
2004 17 0
2005 11 0
2006 12 0
2007 4 0
2008 8 0
Tổng cộng 130 0

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Ajax[sửa | sửa mã nguồn]

Fulham[sửa | sửa mã nguồn]

Manchester United[sửa | sửa mã nguồn]

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Edwin Van der Sar”. ManUtd.com. Truy cập http://soccernet.espn.go.com/player/_/id/8884/edwin-van-der-sar?cc=5901. 
  2. ^ a ă “Edwin Van der Sar”. ManUtd.com. Manchester United. Truy cập 29/10/2010. 
  3. ^ a ă “Profile Sport idol Edwin van der Sar”. SportIdol.blogspot. Sport Idol. Truy cập 23/1/2011. 
  4. ^ “Fulham lands Dutch ace Van der Sar”. BBC Sport (British Broadcasting Corporation). 8 tháng 1 năm 2001. Truy cập 13/8/2008. 
  5. ^ “Man Utd seal Van der Sar switch”. BBC Sport (British Broadcasting Corporation). 6 tháng 10 năm 2005. Truy cập 13/8/2008. 
  6. ^ “Edwin Van der Sar Bio”. ESPN. Truy cập 13/8/2008. 
  7. ^ “Van der Sar pens new one-year deal at United”. ESPNsoccernet. ESPN. 15/12/2006. Truy cập 20/7/2007. 
  8. ^ “Ronaldo secures PFA award double”. BBC Sport (British Broadcasting Corporation). 22/4/2007. Truy cập 13/8/2008. 
  9. ^ Coppack, Nick (8 tháng 5 năm 2007). “Report: Reds lift Community Shield”. ManUtd.com (Manchester United). Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2009. 
  10. ^ “Hero Van der Sar tastes Champions glory again 13 years on”. Reuters UK. 21/5/2008. Truy cập 21/5/2008. 
  11. ^ “Van der Sar extends Man Utd deal”. BBC Sport (British Broadcasting Corporation). 12 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2008. 
  12. ^ McNulty, Phil (31/1/2009). “Man Utd 5–0 Everton”. BBC Sport (British Broadcasting Corporation). Truy cập 31/1/2009. 
  13. ^ Bostock, Adam (2 tháng 8 năm 2009). “Edwin claims British record”. ManUtd.com (Manchester United). Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2009. 
  14. ^ “IFFHS statistics – World Record of the national championships”. Hiệp hội Lịch sử và Thống kê bóng đá Thế giới. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2009. 
  15. ^ “Chilean Apertura 2005 semi-finals”. LatinAmericanFootball.Com. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2009. 
  16. ^ “We can handle pressure – Ferguson”. BBC Sport. 3 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2009. 
  17. ^ “Man Utd suffer Van der Sar blow”. BBC Sport. 8 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2009. 
  18. ^ Ornstein, David (17/10/2009). “Man Utd 2–1 Bolton”. BBC Sport (British Broadcasting Corporation). Truy cập 17/10/2009. 
  19. ^ “Van der Sar returns after injury”. BBC Sport (British Broadcasting Corporation). 10 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2009. 
  20. ^ “Man Utd 3-0 Burnley”. BBC Sport (British Broadcasting Corporation). 16/1/2010. Truy cập 16/1/2010. 
  21. ^ “Manchester United's Edwin Van der Sar extends contract”. BBC Sport (British Broadcasting Corporation). 26/2/2010. Truy cập 26/2/2010. 
  22. ^ “Manchester United's Edwin van der Sar to retire after this season”. guardian.co.uk (The Guardian). 23/12/2010. Truy cập 25/12/2010. 
  23. ^ “Holland end Swede dream”. BBC Sport (British Broadcasting Corporation). 26/6/2004. Truy cập 13/8/82008. 
  24. ^ “Portugal 2–1 Holland”. BBC Sport (British Broadcasting Corporation). 20/6/2004. Truy cập 13/8/2008. 
  25. ^ “RSSSF International Career for Edwin Van der Sar”. 
  26. ^ Scurr, Andrew (29/10/2007). “Van der Sar to quit Holland”. Sky Sports. Truy cập 29/1/2009. 
  27. ^ “Van der Sar happy to be Dutch daddy”. fifa.com. 6 tháng 12 năm 2008. 
  28. ^ Ruizenaar, Theo (22/6/2008). “Van der Sar ends Dutch career with painful defeat”. Reuters. Truy cập 29/1/2009. 
  29. ^ “Van der Sar makes Dutch comeback for World Cup qualifiers”. Reuters. 10 tháng 3 năm 2008. Truy cập 28/102008. 
  30. ^ “Van der Sar: A quiet hero”. Manchester Evening News. 24/5/2008. Truy cập 13/8/2008. 
  31. ^ “Edwin given leave by United – Goalkeeper's wife in hospital after suffering brain haemorrhage”. Sky Sports. 29/12/2009. Truy cập 30/12/2009. 
  32. ^ “Annemarie van Kesteren Pictures: Wife of Manchest United Soccer Star has Stroke”. Newsbizarre. 29/12/2009. Truy cập 29/12/2009. 
  33. ^ bao gồm Johan Cruijff Shield, Siêu cúp Anh, Siêu cúp bóng đá châu Âu, Cúp bóng đá liên lục địa, World Cup
  34. ^ “Edwin van der Sar”. StretfordEnd.co.uk. Truy cập 24/10/2010. 
  35. ^ National Football Teams::.. Player - Edwin van der Sar
  36. ^ Edwin van der Sar - Century of International Appearances

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]