Exile (nhóm nhạc Nhật Bản)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Exile
Nghệ danh Egu
Thể loại Nhạc pop,R&B, Nhạc dance, đương đại thành thị
Năm 2001–nay
Hãng đĩa Rhythm Zone
Website exile.jp
Thành viên hiện tại
Hiro
Makidai
Matsu
Usa
Akira
Kenchi
Keiji
Tetsuya
Naoto
Naoki
Nesmith
Shokichi
Atsushi
Takahiro
Thành viên cũ
Shun

Exile là một nhóm nhạc pop Nhật Bản bao gồm 14 thành viên nam. Exile phát hành album và đĩa đơn của họ dươi nhãn hiệu Rhythm Zone của hãng đĩa Avex Group. Trưởng nhóm Hiro và Chủ tịch của Avex là Max Matsuura cùng học chung một trường trung học.[1]

Chỉ tính riêng ở Nhật Bản, Exile đã bán được tổng cộng hơn 17 triệu đĩa.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trưởng nhóm Hiro từng là thành viên của nhóm nhạc Zoo trước khi nhóm này tan rã vào năm 1995. Năm 1999, anh thành lập một nhóm nhạc mới có tên J Soul Brothers và đổi tên thành "Exile" vào năm 2001.

Tháng 11 năm 2003, họ làm lại đĩa đơn thành công của nhóm Zoo là "Choo Choo Train" và trở thành đĩa đơn quảng cáo đắc lực cho album "Exile Entertainment" của họ. Ban đầu, phong cách của họ chịu nhiều ảnh hưởng của thể loại R&B, nhưng sau đó lại chuyển sang pop nhiều hơn. Đĩa đơn "Real World" phát hành năm 2004 trở thành đĩa đơn đầu tiên của họ đứng đầu trên bảng xếp hạng hàng tuần của Oricon. Tháng 7, 2005, cùng với nhóm nhạc rock của Nhật là Glay, Exile phát hành đĩa đơn "Scream", chiếm vị trí số 1 trên Oricon và bán được hơn 500 000 bản.[2]

Nhóm phát hành "Tada...Aitakute" vào tháng 12 năm 2005 và "Yes!" vào tháng 3 năm 2006; cả hai đều chiếm vị trí cao trên Oricon. Tuy nhiên, thành viên Shun quyết định rời nhóm vào tháng 3 năm 2006 để trở thành ca sĩ hát đơn. Takahiro đã tham gia nhóm vào tháng 9 năm 2006 sau cuộc tìm kiếm của Exile.

Ngày 14 tháng 2 năm 2007, nhóm phát hành đĩa đơn "Michi", là đĩa đơn đầu tiên đứng ở vị trí số 1 trên Oricon từ khi Takahiro tham gia nhóm. Album phòng thu của họ là Exile Love trở thành album bán chạy nhất năm 2008 tại Nhật Bản, gần 1,5 triệu bản đã được bán. Album sưu tập là Exile Ballad Best đã bán được 1 triệu bản trong tuần phát hành đầu tiên và trở thành album bán được nhiều nhất trong tuần phát hành đầu tiên năm 2008 của Nhật Bản. Bài hát "Ti Amo" đã được Hiệp hội công nghiệp thu âm Nhật Bản" chứng nhận là bản nhạc chuông số của một bài hát có lượt tải về thứ 1 triệu.[3]

Năm 2009, bài hát "The Next Door" trở thành bài hát chủ đề của phiên bản tiếng Nhật của trò chơi đối kháng nổi tiếng Street Fighter IV. Phiên bản tiếng Anh "The Next Door -Indestructible-" được dùng cho phiên bản quốc tế của trò chơi.

Ngày 1 tháng 3 năm 2009, Exile và J Soul Brothers thông báo họ sẽ hợp nhất để trở thành nhóm nhạc 14 thành viên. Họ phát hành album đầu tiên, Aisubeki Mirai e vào ngày 2 tháng 12 năm 2009.

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Thứ tự Tên đĩa Ngày phát hành Vị trí cao nhất Doanh số
1 Your Eyes Only: Aimai na Boku no Katachi (Nhật: Your Eyes Only 曖昧なぼくの輪郭?) 27-09-2001 4 249,880
2 Style 12-12-2001 11 112,760
3 Fly Away 20-02-2002 18 31,880
4 Song for You 17-04-2002 6 91,750
5 Cross: Never Say Die 07-08-2002 13 38,410
6 Ex-style: Kiss You 13-11-2002 6 92,769
7 We Will: Ano Basho de (Nhật: We Will あの場所で ?) 05-02-2003 16 32,703
8 Breezin': Together 28-05-2003 2 366,804
9 Let Me Luv U Down feat. Zebra & Maccho 09-07-2003 3 64,854
10 Choo Choo Train [4] 06-11-2003 2 286,812
11 Eternal... 12-11-2003 7 46,762
12 Kizuna 19-11-2003 5 40,468
13 O'ver 27-11-2003 7 33,822
14 Carry On 12-05-2004 2 233,120
15 Real World 30-06-2004 1 125,809
16 Heart of Gold 18-08-2004 4 93,873
17 Hero 01-12-2004 2 181,997
18 Exit 24-08-2004 2 195,004
19 Tada...Aitakute (ただ...逢いたくて) 14-12-2004 1 562,196
20 Yes! 01-03-2006 1 92,622
21 Everything 06-12-2006 2 153,065
22 Lovers Again 17-01-2007 2 257,393
23 Michi 14-02-2007 1 112,106
24 Summer Time Love 16-05-2007 3 132,824
25 Toki no Kakera / 24 karats: type EX (時の描片 ~トキノカケラ~) 29-08-2007 2 141,161
26 I Believe 21-11-2007 3 142,228
27 Pure / You're my sunshine 27-02-2008 2 160,605
28 The Birthday: Ti Amo 24-09-2008 1 301,856
29 Last Christmas 26-11-2008 1 200,255
30 The Monster: Someday 15-04-2009 1 271,711
31 The Hurricane ~Fireworks~ 22-07-2009 1 279,264
32 The Generation: Futatsu no Kuchibiru (Nhật: The Generation ~ふたつの唇~?) 11-11-2009 2 288,752
33 Fantasy 09-06-2010 1[5] 473,051
34 Motto Tsuyoku (Nhật: もっと強く?) 15-19-2010 1 230,564
35 I Wish For You 06-10-2010 2 276,228
36 Each Other's Way (Tabi no Tochū) (Nhật: Each Other's Way ~旅の途中~?) 09-02-2011 1 118,852

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “『第4回渡辺晋賞』エイベックス松浦社長が受賞 プロデュース手腕高評価” (bằng Tiếng Nhật). Oricon. 2 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2011. 
  2. ^ “EXILE、2作目のシングルチャート首位狙うダントツスタート!” (bằng tiếng Nhật). Oricon. 14 tháng 12 năm 2005. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2011. 
  3. ^ “レコード協会調べ 1月度有料音楽配信認定” (bằng tiếng Nhật). Recording Industry Association of Japan. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2011. 
  4. ^ Like Zoo's version of the song, Exile's "Choo Choo Train" also features a voice sample of D. Train's dance hit "Keep On".
  5. ^ Nine-track "Double maxi single" that charted at number 1 on Oricon albums chart.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]