Falko Götz

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Falko Götz
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Falko Götz
Vị trí Tiền đạo/Hậu vệ quét
Thông tin câu lạc bộ
CLB hiện tại FC Erzgebirge Aue (HLV)
CLB trẻ
1969–1971 Vorwärts Berlin
1971–1979 Berliner FC Dynamo
CLB Chuyên nghiệp*
Năm CLB Trận (Bàn)
1979–1983 Berliner FC Dynamo 40 (12)
1983–1984 bị treo giò
1984–1988 Bayer Leverkusen 115 (26)
1988–1992 1. FC Köln 127 (20)
1992–1994 Galatasaray 51 (16)
1994–1996 1. FC Saarbrücken 43 (6)
1996–1997 Hertha BSC Berlin 17 (0)
Tổng 393 (80)
Đội tuyển quốc gia
U-21 Đông Đức 18 (?)
Đội quản lý
1997–2000 Hertha BSC II
2002 Hertha BSC Berlin (tạm quyền)
2003–2004 1860 Munich
2004–2007 Hertha BSC Berlin
2008–2009 Holstein Kiel
2011-2012 Việt Nam[1]
2013- FC Erzgebirge Aue
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng
được ghi ở giải Vô địch quốc gia
.
† Số trận khoác áo (Số bàn thắng).

Falko Götz hay Falko Goetz (sinh ngày 26 tháng 3 năm 1962 tại Rodewisch, Đông Đức) là huấn luyện viên và cầu thủ người Đức[2][3]. Ông đã từng thi đấu cho nhiều CLB khác nhau như: Berliner FC Dynamo, Hertha BSC, GalatasarayBayer Leverkusen. Ông cũng chơi cho Đội tuyển quốc gia Đông Đức. Năm 1997, ông bắt đầu tham gia công tác huấn luyện. Ông đảm nhận vai trò huấn luyện viên trưởng của đội tuyển Việt Nam và đội U23 Việt Nam từ tháng 6 năm 2011[4], và chấm dứt hợp đồng vào ngày 5 tháng 1 năm 2012[5].

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Sự nghiệp cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Chơi ở vị trí tiền vệ, Götz bắt đầu sự nghiệp ở Đông Đức với đội Vorwärts Berlin và sau đó là BFC Dynamo. Năm 1983, trước khi dự trận lượt về với Partizan Belgrade tại Cúp UEFA Götz vượt biên sang Tây Đức. Chính vì điều này, ông đã bị FIFA cấm thi đấu một năm song có thể định cư tại đây và gia nhập Bayer Leverkusen, sau khi khoác áo CLB Bayer Leverkusen được 5 năm Götz chuyển sang thi đấu trong màu áo của CLB 1. FC Köln vào năm 1988. Tại CLB Leverkusen, Götz đã đoạt Cúp UEFA năm 1988, cũng tại đây Götz đã ghi bàn thắng quan trọng trong trận lượt về với Espanyol, một trong ba bàn thắng cần thiết để tạo thế cân bằng 3-0 ở trận lượt đi, sau đó Leverkusen đã giành chiến thắng trên chấm phạt đền. Götz tiếp tục thi đấu cho Galatasaray (1992-1994), 1.FC Saarbrücken (1994-1995) và Hertha BSC (1995-1997) trước khi kết thúc sự nghiệp cầu thủ.

Huấn luyện[sửa | sửa mã nguồn]

Ông là huấn luyện viên cho Hertha một thời gian ngắn trong năm 2002, sau đó là huấn luyện viên cho TSV 1860 München vào mùa bóng 2003, đến năm 2004 ông chính thức là huấn luyện viên trưởng cho đội Hertha. Götz bị Hertha sa thải vào ngày 10 tháng 4 năm 2007. Ngày 15 Tháng Mười Hai 2008, ông làm huấn luyện viên cho CLB Holstein Kiel và bị sa thải vào ngày 17 tháng chín 2009.[6]

Năm 2011, Götz được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng đội tuyển Việt Nam. Cuối năm 2011, Ông dẫn dắt U-23 Việt Nam tham dự giải đấu lớn đầu tiên của mình là Sea Games 26 tại Indonesia, U-23 VN dành quyền vào bán kết và thất bại trước đội chủ nhà Indonesia với tỷ số 0-2, sau đó ở trận tranh huy chương đồng, U-23 VN cũng đã để thua đậm Myanmar 1-4. Kết thúc giải đấu, U23 Việt Nam ra về trắng tay, so với chỉ tiêu tối thiểu là Huy chương Đồng.

Vào 29 tháng 4 năm 2013, ông được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng của FC Erzgebirge Aue

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Dynamo Berlin cũng giành được danh hiệu DDR-Oberliga vào năm 1984, nhưng Götz đã bỏ trốn trong giai đoạn giữa mùa giải.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Falko Götz becomes the new head coach of Olympic national team”. Liên đoàn Bóng đá Việt Nam. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2011. 
  2. ^ “Götz, Falko” (bằng tiếng Đức). kicker.de. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2011. 
  3. ^ “Falko Götz” (bằng tiếng Đức). kicker.de. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2011. 
  4. ^ “hlv Falko Goetz tiếp quản "ghế nóng" ở ĐT Việt Nam”. Dan Tri. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2011. 
  5. ^ Thế Ngọc (5 tháng 1 năm 2011). “hlv Goetz giải quyết xong hợp đồng với VFF”. VnExpress. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2012. 
  6. ^ “Holstein Kiel trennt sich von Falko Götz” (bằng tiếng Đức). handelsblatt.com. 17 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2011. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]