Ferenc Puskás

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ferenc Puskás
Ferenc Puskás.jpg
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Ferenc Purczeld
Ngày sinh 1 tháng 4, 1927(1927-04-01)
Nơi sinh Budapest, Hungary
Ngày mất 17 tháng 11, 2006 (79 tuổi)
Nơi mất Budapest, Hungary
Chiều cao 1,69 m (5 ft 7 in)
Vị trí Inside-left[1]
CLB chuyên nghiệp*
Năm CLB ST (BT)
1943–1949 Kispest 177 (187)
1949–1955 Budapest Honvéd 181 (187)
1958–1966 Real Madrid 262 (242)
Tổng cộng 620 (616)
Đội tuyển quốc gia
1945–1956 Hungary 85 (84)
1961–1962 Tây Ban Nha 4 (0)
Huấn luyện
1967 San Francisco Golden Gate Gales
1968 Vancouver Royals
1968–1969 Alavés
1970–1974 Panathinaikos
1975 Murcia
1975–1976 Colo-Colo
1976–1977 Ả Rập Saudi
1978–1979 AEK Athens
1979–1982 Al-Masry
1985–1986 Sol de América
1986–1989 Cerro Porteño
1989–1992 South Melbourne Hellas
1993 Hungary
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng được ghi ở giải Vô địch quốc gia.
† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

Ferenc Puskás Biró (2 tháng 4 năm 192717 tháng 11 năm 2006), còn có tên Puskás Ferenc hoặc Purczeld Ferenc, là một cầu thủ và huấn luyện viên bóng đá người Hungary. Ông được coi là cầu thủ bóng đá hay nhất mọi thời đại của Hungary, xếp thứ 7 trong Danh sách 100 cầu thủ hay nhất thế giới thế kỷ 20 của World Soccer; ông đã ghi được 84 bàn thắng trong 85 trận đấu quốc tế cho đội tuyển bóng đá quốc gia Hungary cùng với 4 trận dưới màu áo đội tuyển bóng đá quốc gia Tây Ban Nha (không có bàn thắng) và 511 bàn thắng trong 533 trận đấu trong các giải vô địch Hungary và Tây Ban Nha. Mặc dù không có được những yếu tố cần thiết mà một tiền đạo điển hình cần có như chiều cao, khả năng tranh bóng trên không,... Nhưng bù lại, Puskas lại sở hữu một chiếc chân trái vô cùng khéo léo, cùng tốc độ của một chiếc phi cơ. Ông đã ghi tổng cộng 83 bàn thắng trong 84 lần khoác áo ĐTQG Hungary. Kỷ lục ấy được Puskas giữ suốt thế kỷ trước và chỉ bị phá vỡ bởi tiền đạo người Iran - Ali Daei vào năm 2003 (cầu thủ này đã ghi được 109 bàn thắng cho ĐTQG, nhưng cựu cầu thủ của Bayern Munich phải mất đến 149 trận đấu).Khi nói về thành công của cá nhân, Puskas đã rất khiêm tốn khi cho rằng chính những đồng đội của ông mới là "ngọn nguồn" giúp ông được vinh danh trong lịch sử bóng đá. Quả thực, thế hệ vàng của Hungary đã sản sinh ra những cá nhân tài năng như Zoltán Czibor, József Bozsik, Sandor Kocsis và Nándor Hidegkuti. Đặc biệt, khi hầu hết các đội bóng bấy giờ còn chơi khá hoang dại, với sơ đồ chiến thuật gồm hầu hết là tiền đạo, thì Hungary đã biết áp dụng phong cách khoa học vào lối chơi.

Cuộc đời[sửa | sửa mã nguồn]

Ferenc Puskás sinh tại thành phố Budapest, thủ đô Hungary. Năm 1939, ông gia nhập câu lạc bộ bóng đá Kispest Honvéd. Sau đó, ông tham gia đội tuyển bóng đá quốc gia Hungary và đạt rất nhiều thành công. Đội tuyển Hungary thời đó được coi là Đội tuyển Vàng của bóng đá Hungary với huy chương vàng Thế vận hội Mùa hè 1952, huy chương bạc giải vô địch bóng đá thế giới 1954 và là đội bóng đầu tiên đánh bại đội tuyển bóng đá quốc gia Anh ngay tại sân vận động Wembley với tỷ số 6–3.

Năm 1956, ông sang Tây Ban Nha chơi cho R.C.D. Espanyol, sau chuyển sang Real Madrid cho đến khi ông từ giã sự nghiệp cầu thủ vào năm 1967. Trong 11 năm thi đấu cho Real Madrid, ông đã ghi tổng cộng 512 bàn thắng trong 528 trận, 3 lần vô địch cúp C1 châu Âu... Đến năm 1961, Puskás nhập quốc tịch Tây Ban Nha và thi đấu cho đội tuyển bóng đá quốc gia Tây Ban Nha.

Sau khi thôi thi đấu, ông trở thành huấn luyện viên của nhiều câu lạc bộ bóng đá trong đó có cả đội tuyển bóng đá quốc gia Hungary.

Ngày 17 tháng 11 năm 2006, ông mất do bệnh viêm phổi tại Budapest, thọ 79 tuổi. Để tưởng nhớ ông, FIFA đã lấy tên Puskas làm phần thưởng vinh danh bàn thắng đẹp nhất trong năm. Cristiano Ronaldo là cầu thủ đầu tiên nhận danh hiệu này năm 2009.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Glanville, Brian (17 tháng 11 năm 2006). “Obituary:Ferenc Puskas”. The Guardian (London).