Final Fantasy XIII

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Final Fantasy XIII
Nhà phát triển Square Enix PDD 1
Nhà phát hành Square Enix
Nhà sản xuất Yoshinori Kitase
Thiết kế Motomu Toriyama
Toshiro Tsuchida
Yoshinori Kitase
Họa sĩ Tetsuya Nomura
Nao Ikeda
Isamu Kamikokuryou
Kịch bản Motomu Toriyama
Daisuke Watanabe
Yukie Hirano
Harunori Sakemi
Soạn nhạc Masashi Hamauzu
Loạt trò chơi Final Fantasy
Fabula Nova Crystallis Final Fantasy XIII
Nền tảng PlayStation 3, Xbox 360
Công nghệ Crystal Tools
Ngày phát hành
Thể loại Console role-playing game
Đánh giá
Phương tiện truyền tải Blu-ray Disc (PlayStation 3)
DVD DL (Xbox 360)
Điều khiển Gamepad

Final Fantasy XIII (ファイナルファンタジーXIII) là một game RPG trên hệ máy Play Station 3 do hãng Square Enix phát hành cho thị trường trong nước Nhật Bản vào ngày 17 tháng 12 năm 2009. Đây là một tác phẩm trong Project Fabula Nova Crystal Final Fantasy XIII (ファブラ ノヴァ クリスタリス ファイナルファンタジーXIII) (từ đây trở xuống gọi là hệ Fabula) của đồng hãng. Đây cũng là tác phẩm thứ 13 trong loạt game Final Fantasy (từ đây trở xuống gọi là series FF), gọi tắt là FF XIII hay FF 13.

Final Fantasy XIII là game đầu tiên trong series FF được phát triển trên hệ máy console High Definition (HD). Hai phiên bản khác trong series là Final Fantasy Agito XIIIFinal Fantasy Versus III cũng thuộc hệ Fabula, cũng có con số XIII nhưng không được xem là phần ngoại truyện của FF 13 mà cũng là hai tác phẩm chính như bản thân FF 13.

Bản Demo của FF 13 cũng được kèm trong gói Final Fantasy VII Advent Children Complete được phát hành ngày 16 tháng 04 năm 2009. Ở Nhật Bản, FF 13 chỉ được phát hành trên máy PS3 nhưng ở Âu Mỹ, game được phát hành trên hai hệ máy là PS3 và Xbox 360.

FF 13 đã nhận được giải thưởng dành cho thể loại Future trong giải thưởng lớn game Nhật Bản (Nippon geimu taishou).

System[sửa | sửa mã nguồn]

Chủ đề chiến trận của FF 13 cũng được thể hiện giống như trong Final Fantasy VII Advent Children, làm cho người chơi cảm nhận được tốc độ trong hệ thống Active Time Battle (ATB) nhưng hệ thống này hoạt động không giống các phiên bản trước. Người chơi có thể liên kết các command lại với nhau. Phiên bản này có được tính liền mạch khi chuyển đổi từ World map sang cảnh chiến đấu nhưng ở đây, chức năng Freelan Auto Attack Battle như trong Final Fantasy XIFinal Fantasy XII rất khó thực hiện trên hệ máy mới nên người ta đã sử dụng lại chức năng chiến trận dựa vào Symbol Encounter như trong Chrono Trigger. Tại thời điểm của bản demo, HP được hồi phục hoàn toàn sau mỗi trận đánh và khái niệm MP cũng không còn, ma thuật và kỹ năng được thống nhất trong việc quản lý hao tổn của thanh ATB của mỗi nhân vật. Đây là battle system mới chú trọng đến mặt ghi điểm và combo trong mỗi trận đánh.

Nhân vật[sửa | sửa mã nguồn]

Party Member[sửa | sửa mã nguồn]

Lightning (ライトニング)
Diễn viên lồng tiếng: Sakamoto Maaya
Nhân vật chính của tác phẩm, 21 tuổi, một trong các nhân vật nữ của L'cie (ルシ). Thú triệu hồi (Shoukanjuu) là Odin. Driving Mode: Ngựa.
Lightning không phải là tên thật mà là code name. Khi chứng kiến cái chết của cha mẹ mình thời thơ ấu, cô quyết định vứt bỏ tên thật của mình, quyết tâm trở thành "người lớn" để có thể bảo vệ em gái của mình, và cũng từ đó không dùng đến tên thật nữa. Lightning vốn là cán bộ cao cấp của "Thánh phủ" (Seifu), sau được Crystal lựa chọn là người hủy diệt thế giới, kẻ thù của nhân loại và đã bị đuổi khỏi Thánh phủ.
Lightning là kiểu người nghiêm khắc, không bao giờ khoan nhượng với người khác, khi ra tay thì quyết liệt tàn khốc và cũng có khi đánh ngay cả đồng đội của mình. Tuy nhiên đó chỉ là lớp vỏ bề ngoài, bên trong nội tâm Lightning là một sự nhu mì yếu đuối chỉ được thể hiện ra ngoài khi cô chỉ có một mình.
Vũ khí của Lightning là một thanh kiếm với tính năng của súng được gọi là Blaze Edge (ブレイズエッジ). Cô cũng sở hữu năng lực điều khiển trọng lực.
Snow Villiers (スノウ・ヴィリアース)
Diễn viên lồng tiếng:Ono Daisuke
Thú triệu hồi (Shoukanjuu): Shiva. Driving Mode: Xe mô tô.
Hình tượng Snow được mô tả là một nam thanh niên với hàm râu quai nón, là một người trong số L'cie,:được Fal'cie (ファルシ) lựa chọn để thi hành những sứ mệnh tàn khốc. Fal'cie là một thực thể tồn tại: toàn tri toàn năng trong FF 13. Tuy nhiên Snow lại là con người không lạnh lùng chút nào. Đây là: mẫu nhân vật nhiệt huyết, hay quan tâm tới người khác và suy nghĩ tích cực. Vì vậy mà Snow luôn: được đồng đội tín nhiệm trong vai trò lãnh đạo của nhóm Nora.
Snow cũng là nhân vật có lắm hành động không suy tính trước sau nên thường khiến Lightning bực: tức. Về quan hệ thì Snow là vị hôn phu của Serah (セラ), em gái của Lightning.
Cách chiến đấu của nhân vật này cũng lạ lùng, tuy giỏi quyền thuật nhưng Snow cũng mang súng và: chiến đấu trên cỗ xe do Shiva biến hình.
Oerba Dia Vanille (ヲルバ=ダイア・ヴァニラ)
Diễn viên lồng tiếng: Fukui Yukari
Thú triệu hồi: Hecatoncheir. Driving Mode:??
Vanille là cư dân của hạ giới (Pulse- パルス), một trong số những người được Fal'cie chọn vào: L'cie. Thiếu nữ xinh đẹp này sinh sống tại Cocoon, cùng hành động với nhóm của Lightning nhưng mục: đích của cô nàng thế nào, sự thực ra sao thì không một ai biết được. Vũ khí chiến đấu của Ville là cần câu cá. Ban đầu, nhân vật này giữ vai trò người dẫn truyện trong câu chuyện chung của cả nhóm.
Sazh Katzroy (サッズ・カッツロイ)
Diễn viên lồng tiếng: Ebara Masashi.
Thú triệu hồi: Brynhildr. Driving Mode: Xe đua.
Nhân vật trung niên này rất dễ xúc động và giàu lòng nhân ái. Sazh hợp tác với Lightning, người bị: cho là "kẻ thù của nhân loại". Vũ khí của Sazh là hai khẩu súng ngắn. Tuy nhiên bản thân Sazh lại: không phải là chiến binh thiện nghệ lắm. Đầu tóc xù của nhân vật này là nơi lý tưởng để nuôi:Chocobo con.
Hope Estheim (ホープ・エストハイム)
Diễn viên lồng tiếng: Kaji Yuuki.
Thú triệu hồi: Alexander. Driving Mode: Pháo đài.
Thiếu niên 14 tuổi này sống ở Cocoon, một thế giới lý tưởng trong mơ ước của nhiều người. Vũ khí: của Estheim là boomeran.
Oerba Yun Fang (ヲルバ=ユン・ファング)
Diễn viên lồng tiếng: Andou Mabuki
Thú triệu hồi: Bahamut. Driving Mode: phi long.
Fang là nhân vật nữ tóc đen hợp tác với quân Thánh phủ, trên cánh tay phải mang dấu ấn của L'cie.:Vũ khí chiến đấu là trường thương.

Ngoài những nhân vật chính yếu kể trên, FF 13 còn một số nhân vật phụ như Gadot (ガドー), Lebreau (レブロ), Maqui (マーキー), Serah Farron (セラ・ファロン), Dajh Katzroy (ドッジ・カッツロイ), Yaag Rosch (ヤーグ・ロッシュ), Jihl Nabaat (ジル・ナバート)...

Những thuật ngữ trong game[sửa | sửa mã nguồn]

Làng lý tưởng Cocoon (理想郷クーン)
Đây là một đô thị trên không trung được bao bọc bởi một cái kén khổng lồ hình cầu do đấng toàn tri: toàn năng FaLucy tạo ra để bảo vệ con người khỏi sự đe dọa của hạ giới Pulse. Cocoon là đô: thị phồn vinh, khép kín đối với phần còn lại của thế giới nhưng nhân khẩu đã vượt quá mấy trăm vạn: người và nằm dưới sự quản lý của Thánh phủ. Tuy nhiên trong thời điểm hiện tại, mối đe dọa từ: Pulse đã dần dần thấm sâu vào Cocoon khiến cư dân của đô thị lý tưởng này lo sợ.
Hạ giới Pulse (下界パルス)
Là thế giới rộng lớn trên mặt đất, bên ngoài Cocoon. Những người đến nơi này đều không thấy trở về: nên có nghi ngờ rằng không biết con người có thể tồn tại nơi đây được không. Người ta cho rằng: Pulse có "vật lạ đến từ bên ngoài" gây ảnh hưởng xấu đến cư dân của Cocoon.
Thánh phủ (聖府)
Đây là cơ quan quản lý, kiểm soát mọi cư dân ở Cocoon. Mục đích của Thánh phủ là mang lại hòa: bình, an thái cho Cocoon. Thánh phủ đã tuyên bố dẫn độ, cưỡng ép những người bị nghi ngờ là bị ảnh: hưởng bởi "vật lạ đến từ bên ngoài" xuống hạ giới Pulse. Thánh phủ sở hữu một lực lượng chiến đấu: hùng hậu với những hạm đội bay khổng lồ.
FaLucy (ファルシ)
Đây là thực thể bao bọc Crystal, sáng tạo nên Cocoon.
Lucy (ルシ)
Người được FaLucy lựa chọn, được cho là bị nguyền rủa và phải nhờ Thú triệu hồi để giải nguyền.
Crystal (クリスタル)
Thực thể sinh ra vô số máy móc và sinh vật và được Cocoon bảo vệ. Crystal là biểu tượng của hòa: bình, nó lựa chọn con người và ban cho vận mệnh, nó theo ý chí của loài người và dẫn đường cho thế: giới. Nó cũng chính là thực thể lựa chọn Lightning trở thành người hủy diệt thế giới, kẻ thù của: nhân loại. "Dị vật đến từ bên ngoài" cũng do chính Crystal sản sinh ra.
Thực thể cứu vớt Lucy bị nguyền rủa (呪われたルシを救う存在)
Chính là Thú triệu hồi. Tuy nhiên tên gọi chính thức vẫn chưa được tiết lộ ở giai đoạn hiện thời.
Nora (ノラ)
Tổ chức của những người trẻ tuổi muốn tìm kiếm tự do, không muốn bị trói buộc trong sự quản lý của: Thánh phủ do Snow lãnh đạo. Tuy nhiên đây không phải là một tổ chức có hệ thống chặt chẽ mà chỉ là: một nhóm người lấy căn cứ điểm ở miền biên cảnh của Cocoon để trị quái vật. Nora bắt đầu chống lại: Thánh phủ khi thấy một ngôi làng bị cho là nhiễm ảnh hưởng của "dị vật đến từ bên ngoài" bị loại: bỏ.

Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Toàn bộ các khúc nhạc trong FF 13 đều do Hamauzu Masashi biên soạn. Cũng giống như FF 12, ở đây cũng sử dụng lại các khúc nhạc bất hủ do Uematsu Nobuo sáng tác và được arrange lại, nhưng tại thời điểm hiện tại, Uematsu không còn phụ trách mảng âm nhạc nữa mà giao lại việc soạn nhạc cho chủ đề ca và ca khúc giữa game cho Hamauzu.

Chủ đề ca "Kimi ga iru kara" (Vì em bên anh)
Soạn nhạc: Hamauzu Masashi
Arrange:Sin
Ca sĩ: Sugawara Sayuri
Ca khúc giữa game "Eternal Love" (tình yêu bất diệt)
Soạn nhạc: Hamauzu Masashi
Arrange:Sin
Ca sĩ: Sugawara Sayuri

Crystal Tools[sửa | sửa mã nguồn]

Kể từ FF 13, các phiên bản sẽ được phát triển trên nền engine Original của Square Enix. Engine này có tên gọi chính thức là "Crystal Tools" (クリスタルツールズ) và đáp ứng được các hệ máy: PC, PS3, Xbox 360 và Wii. Engine này có một lợi điểm là trong quá trình phát triển, người ta có thể preview nội dung của phần vừa phát triển trên console thực. Nó còn được gọi là "White engine" tại thời điểm công bố năm 2006, nhưng lúc đó ông Tanaka Hiromichi, ủy viên chấp hành, đã tiết lộ rằng "nó không phải là một thứ engine mà chỉ là một tập hợp các bí quyết của hãng mà thôi". Tại thời điểm hiện tại còn có FF Versus XIII và Final Fantasy XIV đã sử dụng engine này.

Staff[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Robinson, Andy (8 tháng 9 năm 2009). “Final Fantasy XIII out December 17 in Japan”. Computer and Video Games. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2009. 
  2. ^ “FACE YOUR DESTINY ON MARCH 9, 2010 – FINAL FANTASY XIII LAUNCHES IN NORTH AMERICA” (Thông cáo báo chí). Sony Computer Entertainment. 5 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2009. 
  3. ^ “Final Fantasy XIII: Aussie Date Announced for PS3 11 March”. IGN. 9 tháng 3 năm 2010. Truy cập 16 tháng 11 năm 2009. 
  4. ^ “FINAL FANTASY XIII”. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2009. 
  5. ^ Ubisoft. “Classification Database - FINAL FANTASY XIII (M)”. Oflc.gov.au. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2010. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]