Florentino Pérez

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Florentino Pérez
Sinh Florentino Pérez Rodríguez
8 tháng 3, 1947 (67 tuổi)
Cờ của Tây Ban Nha Hortaleza, Madrid, Tây Ban Nha
Nơi cư trú Madrid, Tây Ban Nha
Quốc gia Tây Ban Nha
Học vấn Đại học Bách khoa Madrid
Công việc Kỹ sư xây dựng
Nổi tiếng vì Chủ tịch của Real Madrid C.F.
Tài sản Green Arrow Up Darker.svg 1.9 tỷ đô la Mỹ
Thành viên của hội đồng Grupo ACS (C.E.O.)
Tín ngưỡng Công giáo
Vợ (hoặc chồng) María Ángeles "Pitina" Sandoval Montero (died 22 May 2012)[1]
Con cái María Ángeles Pérez Sandoval
Eduardo Pérez Sandoval
Florentino Pérez Sandoval
Người thân Eduardo Pérez del Barrio (cha)
Soledad Rodríguez Pérez (mẹ)

Florentino Pérez Rodríguez (sinh 8 tháng 3 năm 1947) là một doanh nhân, kỹ sư xây dựng, cựu chính trị gia người Tây Ban Nha. Hiện tại ông là chủ tịch của Câu lạc bộ bóng đá Real MadridACS. Ông nổi tiếng với việc mở ra thời kỳ Los Galácticos của Real Madrid, trong thời kỳ này, ông đã chấp nhận trả phí chuyển nhượng cực kỳ cao cho các cầu thủ bóng đá nổi tiếng.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Pérez gia nhập Đảng Unión de Centro Democrático (Liên minh Dân chủ Trung hữu)năm 1979, phục vụ trong Hội đồng thành phố Madrid.

Năm 1986, Pérez chạy đua trong cuộc tổng tuyển cử Tây Ban Nha là ứng cử viên cho Reformista Partido Democrático. Ông theo học Đại học Bách khoa Madrid.

Vào năm 1993, ông được bổ nhiệm vào chức chủ tịch OCP Construcciónes, S.A. Sau khi sáp nhập OCP với Gines y Navarro vào Actividades de Construcción y Servicios, S.A. (ACS) năm 1997, ông đã trở thành chủ tịch công ty mới này.

Real Madrid[sửa | sửa mã nguồn]

Florentino Pérez lần đầu tranh cử chức chủ tịch của Real Madrid vào kỳ bầu cử ngày 19 tháng 2 năm 1995. Chiến dịch của ông đánh vào tình hình tài chính kém cỏi của đội bóng và sự quản lý sai lầm bị cáo buộc bởi hội đồng, nhưng ông đã thất bại trước Ramón Mendoza với 700 phiếu bầu.

Thời kỳ thứ nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Nỗ lực tranh cử lần thứ 2 của ông đã thành công hơn khi ông ứng cử ghế chủ tịch vào năm 2000. Ông đã giành chiến thắng trước chủ tịch đương nhiệm Lorenzo Sanz. Sanz cho rằng với việc giành European Cups vào năm 1998 và 2000 sẽ đem lại cho ông đủ khả năng để giành chiến thắng trong cuộc bầu cử, những chiến lược của Perez, một lần nữa nhấn mạnh vấn đề tài chính của câu lạc bộ và tuyên bố sự yếu kém trong việc quản lý của hội đồng trước đó, đã chứng minh điều ngược lại. Perez còn hứa sẽ đem Luís Figo từ kình địch FC Barcelona cũng đóng một vai trò quyết định trong cuộc bầu cử. Cuối cùng, Florentino Perez đắc cử chức chủ tịch Real với tỷ lệ phiếu bầu gây sốc - 55%. Đúng như lời hứa, ông đã mang Figo về, từ Barcelona trong một hợp đồng trị giá 56 triệu USD, có thời hạn 6 năm. Vào năm 2004, Perez tái đắc cử với 94.2% phiếu bầu.

Luís Figo còn đánh dấu bước khởi đầu cho chính sách đưa một trong những siêu sao bóng đá thế giới về Real Madrid mỗi mùa của Perez. Chiến dịch này ban đầu được biết đến với tên Zidanes y Pavones trong đó các siêu sao sẽ chơi cùng với Canteranos. Nhưng dần dần được phổ biến với tên gọi Galácticos. Vào năm 2001, Zinedine Zidane đã ký hợp đồng với Real từ Juventus với mức phí chuyển nhượng kỷ lục vào thời điểm đó là 73.5 triệu . Và sau đó là Ronaldo vào 2002, David Beckham vào 2003, Michael Owen vào 2004, và Robinho trong một thời gian ngắn năm 2005. Ban đầu, chiến sách của Perez đã đem lại thành công lớn, do từng Galáctico xây dựng đội hình dựa vào cầu thủ, và có một sự cân bằng thích hợp hơn cho tấn công và phòng thủ. Trong những năm đầu tiên ông làm chủ tịch, Real Madrid giành 2 Spanish Championships và chiếc cúp C1 thứ 9, ghi tên mình vào kỷ lục.

Pérez tuyến bố đã thanh toán các khoản nợ của câu lạc bộ thành công, tuy nhiên điều này mâu thuẫn với giám đốc Ramón Calderón.

Sau khi mùa giải 2002-2003 kết thúc, Pérez quyết định ko gia hạn hợp đồng của huấn luyện viên Vicente del Bosque, mặc dù Real giành được danh hiệu La Liga lần thứ 29. Del Bosque đã cân bằng được cái tôi của các cầu thủ ngôi sao trong một đội hình toàn sao. Nhiều người tin rằng đã có một sự chia rẽ giữa 2 bên: del Bosque và các cầu thủ của ông (Fernando Hierro, Fernando Morientes, Steve McManaman, and Claude Makélélé) và Pérez. Tất cả cầu thủ nói trên đều rời câu lạc bộ vào năm 2003 trong nỗ lực cải tổ của Pérez nhằm giành lại quyền kiểm soát.

Đặc biệt, Claude Makélélé đựoc coi là một trong những tiền vệ phòng ngự tốt nhất tại thời điểm đó và góp một phần quan trọng trong thành công của Real, đã đề nghị đựoc tăng lương với sự ủng hộ từ đồng đội Zidane, Raúl, Steve McManaman, and Fernando Morientes. Tính tới thời điểm đó, Makélélé là một trong những cầu thủ bị trả lương không xứng đáng nhất với đóng góp của anh cho Real Madrid, nhưng Pérez đã thẳng thừng từ chối xem xét. Khó chịu với việc bị từ chối, Makélélé đề nghị được chuyển đi, và anh đã nhanh chóng chuyển tới Chelsea. Pérez chê bai và khinh miệt khả năng của Makélélé và tuyên bố rằng sẽ không nhớ anh. Ông nói: Chúng tôi sẽ không nhớ Makélélé, kỹ thuật của anh ta chỉ tầm thường, sự thiếu hụt về tốc độ và kỹ năng để đưa bóng qua đối thủ, và 90% đường chuyền của anh ta đi ngược trở lại hoặc đi ngang ra ngoài "

Sau khi bán Makélélé, Pérez ký hợp đồng với các cầu thủ tấn công giỏi như Michael Owen, Júlio Baptista, và Robinho, theo chính sách Galáctico của ông. Nhưng tiếc rằng, tất cả cầu thủ trong Galacticos đều là cầu thủ tấn công, thường bị giới hạn trong vai trò và khả năng phòng thủ, và Pérez thất bại trong việc tìm kiếm một tiền vệ thay thế cho Makélélé. Đàm phán với Patrick Vieira từ Arsenal thất bại do Pérez từ chối trả lương cao cho một cầu thủ phòng ngự.

Vài năm sau khi rời Real, McManaman và Morientes phát biểu rằng Makélélé là tiền vệ quan trọng nhất và được đánh giá cao nhất, sau này nói rằng "Sự mất mát của Makélélé là bắt đầu cho cái kết của Los Galácticos... Và cũng có thể thấy rằng đó cũng là sự khởi đầu bình minh mới của Chelsea." Từ mùa 2003-04 trở đi, với sự vắng mặt của del Bosque và Makélélé, Real Madrid thất bại trong việc giành danh hiệu.

Mặc dù chính sách của Pérez đem lại sự tăng trưởng về tài chính dựa trên việc tiếp thị thương hiệu câu lạc bộ tới khai thác tiềm năng trên thế giới, đặc biệt là châu Á, nó vẫn bị chỉ trích khi quá tập trung vào việc tiếp thị thương hiệu Real Madrid và không thành công trong bóng đá.

Pérez tuyên bố từ chức vào 27 tháng 2 năm 2006, và ông thừa nhận rằng đội bóng và câu lạc bộ cũng như toàn bộ cần một hướng đi mới.

Thời kỳ thứ 2[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 14 tháng 5 năm 2009, Pérez công bố tranh cử chức chủ tịch Real Madrid trong một cuộc họp báo tại Hotel Ritz Madrid. Vào 1 tháng 7 năm 2009, với việc ông là ứng viên duy nhất có thể chi ra 57.389.000 euro cho việc đảm bảo cần thiết cho ghế chủ tịch, Pérez được công bố là chủ tịch mới của Real Madrid

Pérez tiếp tục theo đuổi chính sách Galácticos được đưa ra từ thời kỳ đầu. Vào ngày 8 tháng 6 năm 2009, ông mua Kaká từ Milan với giá 60 triệu bảng Anh. Sau đó vào ngày 11 tháng 6, Manchester United chấp nhận lời đề nghị 80 triệu bảng Anh dành cho Cristiano Ronaldo, một lần nữa phá vỡ kỷ lục thế giới. Và vào ngày 25 tháng 6, Pérez và Real Madrid công bố việc ký kết với hậu vệ Raúl Albiol từ Valencia với giá 15 triệu bảng Anh. Cuối cùng vào ngày 1 tháng 7, Pérez mua Karim Benzema từ Olympique Lyonnais với mức giá được cho là ít nhất là 30 triệu bảng Anh, có thể lên 35 triệu bảng Anh tùy thuộc vào phong độ thi đấu.

Ngày 5 tháng 8 năm 2009, Real Madrid xác nhận đã có chữ ký của Xabi Alonso từ Liverpool với giá 30 triệu bảng Anh, trở thành cầu thủ Liverpool thứ 2 gia nhập Real Madrid trong cùng kỳ chuyển nhượng năm 2009 sau hậu vệ cánh Álvaro Arbeloa chuyển đến trong tháng 7 với giá 3,5 triệu bảng Anh.

Ngày 31 tháng 10 năm 2010, Pérez giới thiệu José Mourinho là huấn luyện viên mới tại Real Madrid với giá 6,8 triệu bảng Anh.

Trong 3 năm tiếp theo ông tiếp tục đem về nhiều ngôi sao khác đến Los Blancos, bao gồm tài năng trẻ người Đức Mesut ÖzilÁngel di María, Real Madrid người đã thu hút sự chú ý của các câu lạc bộ hàng đầu châu Âu sau màn biểu diễn ấn tượng tại 2010 World Cup tại Nam Phi.

Chủ nhật, ngày 2 tháng 6 năm 2013, Pérez quyết định bổ nhiệm Carlo Ancelotti thay cho Mourinho làm huấn luyện viên trưởng.

Các hợp đồng[sửa | sửa mã nguồn]

Hạng Tên cầu thủ Đến từ Phí chuyển nhượng
(triệu bảng)
Phí chuyển nhượng
(triệu Euro)
Năm
1. Cờ của Wales Gareth Bale Cờ của Anh Tottenham Hotspur 85,3[2] 100,0[2] 2013
2. Cờ của Bồ Đào Nha Cristiano Ronaldo Cờ của Anh Manchester United 80,0[3] 94,0[4] 2009
3. Cờ của Pháp Zinedine Zidane Cờ của Ý Juventus 46,0[5] 76,0 2001
4. Cờ của Brasil Kaká Cờ của Ý Milan 56,8[6] 65,8[7] 2009
5. Cờ của Bồ Đào Nha Luís Figo Cờ của Tây Ban Nha Barcelona 37,0[8] 58,5 2000
6. Cờ của Brasil Ronaldo Cờ của Ý Internazionale 28,5[9] 43,0 2002
7. Cờ của Croatia Luka Modrić Cờ của Anh Tottenham Hotspur 32,0 40,0 2012
8. Cờ của Tây Ban Nha Xabi Alonso Cờ của Anh Liverpool 30,0 35,4[10] 2009
9. Cờ của Anh David Beckham Cờ của Anh Manchester United 24,5[11] 35,1 2003
10. Cờ của Pháp Karim Benzema Cờ của Pháp Lyon 30,0[6] 35,0[7] 2009
11. Cờ của Tây Ban Nha Illarramendi Cờ của Tây Ban Nha Sociedad 27,8 32,1[12] 2013
12. Cờ của Bồ Đào Nha Fábio Coentrão Cờ của Bồ Đào Nha Benfica 27,1 30,0[13] 2011
13. Cờ của Tây Ban Nha Isco Cờ của Tây Ban Nha Malaga 23,1 27,0[14] 2013
14. Cờ của Tây Ban Nha Sergio Ramos Cờ của Tây Ban Nha Sevilla 18,6 27,0[15] 2005
15. Cờ của Argentina Ángel di María Cờ của Bồ Đào Nha Benfica 20,5 25,0[16] 2010
16. Cờ của Argentina Walter Samuel Cờ của Ý Roma 16,8 25,0[17] 2004
17. Cờ của Brasil Robinho Cờ của Brasil Santos 16,5[18] 24,0 2005
18. Cờ của Brasil Júlio Baptista Cờ của Tây Ban Nha Sevilla 13,8[19] 20,0 2005
19. Cờ của Anh Jonathan Woodgate Cờ của Anh Newcastle United 13,4[20] 19,8 2004
20. Cờ của Tây Ban Nha Raúl Albiol Cờ của Tây Ban Nha Valencia 12,8 15,0[21] 2009
21. Cờ của Đức Mesut Özil Cờ của Đức Werder Bremen 12,3 15,0[22] 2010
22. Cờ của Đức Sami Khedira Cờ của Đức Stuttgart 11,4 14,0[22] 2010
23. Cờ của Pháp Claude Makélélé Cờ của Tây Ban Nha Celta de Vigo 9,1 14,0[23] 2000
24. Cờ của Anh Michael Owen Cờ của Anh Liverpool 8,0[24] 11,9 2004
25. Cờ của Thổ Nhĩ Kỳ Nuri Şahin Cờ của Đức Borussia Dortmund 8,1 10,0[25] 2011
26. Cờ của Tây Ban Nha Pedro León Cờ của Tây Ban Nha Getafe 8,0 10,0[26] 2010
27. Cờ của Bồ Đào Nha Ricardo Carvalho Cờ của Anh Chelsea 6,5 8,0 [27] 2010
28. Cờ của Tây Ban Nha Dani Carvajal Cờ của Đức Bayer Leverkusen 5,5 6,5[28] 2013
29. Cờ của Brasil Casemiro Cờ của Brasil São Paulo 5,1 6,0[29] 2013
30. Cờ của Ý Antonio Cassano Cờ của Ý Roma 3,8 5,5[30] 2006
31. Cờ của Tây Ban Nha Sergio Canales Cờ của Tây Ban Nha Racing Santander 3,8 4,5[31] 2010
32. Cờ của Tây Ban Nha Esteban Granero Cờ của Tây Ban Nha Getafe 3,4 4,0[32] 2009
33. Cờ của Tây Ban Nha Álvaro Arbeloa Cờ của Anh Liverpool 3,0 4,0[33] 2009
34. Cờ của Uruguay Pablo García Cờ của Tây Ban Nha Osasuna 2,7 4,0[34] 2005
35. Cờ của Đan Mạch Thomas Gravesen Cờ của Anh Everton 2,5[35] 3,6 2005
36. Cờ của Thổ Nhĩ Kỳ Hamit Altintop Cờ của Đức Bayern München Miễn phí[36] Miễn phí 2011

Cầu thủ in đậm là đang thi đấu cho Real Madrid.

Hạng được sắp xếp theo phí chuyển nhượng tính bằng đồng Euro.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Death of "Pitina" Sandoval
  2. ^ a ă “Gareth Bale joins Real Madrid from Spurs in £85m world record deal”. London: BBC.co.uk. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2013. 
  3. ^ Taylor, Daniel. “Manchester United accept £80m Cristiano Ronaldo bid from Real Madrid”. London: Guardian.co.uk. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2009. 
  4. ^ “OFFICIAL: Manchester United Accept Real Madrid Bid For Ronaldo”. Yahoo.com. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2009. 
  5. ^ “Zidane”. Football Database. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2009. 
  6. ^ a ă Burt, Jason. “Kaka joins Real Madrid from AC Milan in world-record £56million move”. London: Independent.co.uk. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2009. 
  7. ^ a ă “AC Milan And Real Madrid Agree Kaka Transfer, Says Spanish Radio”. Yahoo.com. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2009. 
  8. ^ “Luís Figo”. Football Database. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2009. 
  9. ^ “Ronaldo”. Football Database. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2009. 
  10. ^ “Xabi Alonso”. Football Database. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2009. 
  11. ^ “Beckham joins Real Madrid”. BBC.co.uk. 18 tháng 6 năm 2003. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2009. 
  12. ^ “Illaramendi”. Real Madrid. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2013. 
  13. ^ “Madrid confirm Coentrão transfer from Benfica”. UEFA.com. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2011. 
  14. ^ “Isco”. BBC. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2013. 
  15. ^ “Sergio Ramos”. Football Database. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2009. 
  16. ^ “El Real Madrid hace oficial el fichaje de Di María”. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2010. 
  17. ^ “Walter Samuel”. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2010. 
  18. ^ “Real Madrid sign striker Robinho in £16,5m deal”. London: Independent.co.uk. 22 tháng 7 năm 2005. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2009. 
  19. ^ “Real pip Arsenal to sign Baptista”. BBC.co.uk. 29 tháng 7 năm 2005. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2009. 
  20. ^ “Real Madrid sign Woodgate”. BBC.co.uk. 20 tháng 8 năm 2004. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2009. 
  21. ^ “Real Madrid sign Raul Albiol and step up Karim Benzema chase”. London: Telegraph.co.uk. 25 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2009. 
  22. ^ a ă “Terms agreed with Real Madrid”. vfb.de. 30 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2010. 
  23. ^ “Claude Makélélé”. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2010. 
  24. ^ “Owen unveiled by Real”. BBC.co.uk. 14 tháng 8 năm 2004. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2009. 
  25. ^ “Official Announcement”. realmadrid.com. 15 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2012. 
  26. ^ “Official Announcement”. realmadrid.com. 15 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2010. 
  27. ^ “Ricardo Carvalho”. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2010. 
  28. ^ “Official: Madrid complete £5,5 million Carvajal return”. Goal.com. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2013. 
  29. ^ http://www.goal.com/en-gb/news/2892/transfer-zone/2013/06/10/4039686/real-madrid-complete-51-million-casemiro-signing
  30. ^ “Madrid unveil Cassano”. UEFA.com. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2009. 
  31. ^ “Sergio Canales”. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2009. 
  32. ^ “Real Madrid Re-Sign Esteban Granero From Almeria For €3,5m”. RealMadrid.com. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2009. 
  33. ^ “Alvaro Arbeloa, New Real Madrid Player”. RealMadrid.com. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2009. 
  34. ^ “Uruguayan pair make Madrid move”. UEFA.com. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2009. 
  35. ^ “Gravesen completes switch to Real”. BBC.co.uk. 14 tháng 1 năm 2005. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2009. 
  36. ^ “Real Madrid complete signing of Hamit Altintop”. dailymail.co.uk. 11 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2009. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]