Ford Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Ford Việt Nam là một trong những công ty sản xuất ô tô và phân phối sản phẩm này trên thị trường ô tô Việt Nam. Đây là liên doanh giữa Ford Motor Company (Hoa Kỳ 75%) và Công ty Diesel Sông Công (Việt Nam - 25%), với tổng số vốn đầu tư 72 triệu USD. Đến năm 2005, Ford Việt Nam vẫn là Công ty có vốn đầu tư trực tiếp lớn nhất của Hoa Kỳ tại Việt Nam.

Song hành với chiến lược kinh doanh, công ty Ford Việt Nam đã có nhiều hoạt động đóng góp vào sự phát triển của giao thông Việt Nam, ví dụ như chương trình giúp lái xe an toàn vào buổi sáng hàng tuần, chương trình Ford Grant tài trợ cho các dự án bảo vệ môi trường và giữ gìn văn hóa, v.v

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 05 tháng 9 năm 1995: được cấp giấy phép đầu tư.

Tháng 10 năm 1995: khởi công xây dựng nhà máy tại Hải Dương

Tháng 9 năm 1997: Khai trương 3 đại lý ủy quyền đầu tiên tại 3 miền của Việt Nam

Tháng 11 năm 1997: Khai trương nhà máy tại Hải Dương.

Các phiên bản xe[sửa | sửa mã nguồn]

2007[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2007, Ford Việt Nam ra mắt phiên bản Ford Everest mới và Ford Transit 9 chỗ ngồi. Các phiên bản này được giới thiệu tại triển lãm ô tô Việt Nam 2007 (Autotech) tại Cung Văn hóa Hữu nghị Việt Xô, Hà Nội.

2009[sửa | sửa mã nguồn]

Ford Việt Nam sản xuất và cung cấp các loại xe cơ bản sau: Transit, Everest, Escape, Ranger, Focus, Mondeo.

Nhà máy lắp ráp[sửa | sửa mã nguồn]

Ford Việt Nam có nhà máy lắp ráp đặt tại xã Lai Cách, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, với tổng diện tích là 30 ha. Nhà máy có ba phân xưởng chính là: Xưởng Hàn (Body Shop), Xưởng Sơn (Paint Shop) và Xưởng Lắp ráp Hoàn thiện (Trim and Final Lines). Loại hình lắp ráp chủ yếu là CKD2 (nhập khẩu cụm linh kiện) với công suất 14.000 xe một năm.

Nhân lực[sửa | sửa mã nguồn]

Lao động tại Công ty Ford Việt Nam chủ yếu là người Việt Nam, có khoảng 2 đến 5 nhân sự nước ngoài chiếm giữ vị trí chủ chốt (Tổng Giám đốc, Giám đốc Tài chính, Giám đốc Sản xuất, Giám đốc Nhân sự, Giám đốc Bán hàng và Tiếp Thị). Với chính sách đào tạo tốt, phát triển nhân lực địa phương, đến năm 2009, chỉ còn Tổng Giám đốc là người nước ngoài. Công nhân tại nhà máy chủ yếu là người địa phương, dao động từ 200 đến 300 người.

Các Tổng Giám đốc qua các thời kỳ (đến tháng 4 năm 2010): Murray Gilbert (Úc), Deborah Aronson (Mỹ), Jason Liu (Đài Loan), Timothy Tucker (Mỹ), Michael Peace (Úc)

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]