Francis Garnier

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới: menu, tìm kiếm
Francis Garnier trên con tem năm 1943 của Liên bang Đông Dương

Marie Joseph François (Francis) Garnier (25 tháng 7 1835?[1] - 21 tháng 12 1873) là một sĩ quan người Pháp[2] và đồng thời là một nhà thám hiểm, được biết đến vì cuộc thám hiểm sông Mê Kông tại khu vực Đông Nam Á cũng như vì chiến dịch quân sự của mình tại Bắc Kỳ năm 1873.

Sử Việt cũ thường phiên âm tên Garnier là Ngạc Nhi.

Năm 1943, Liên bang Đông Dương đã phát hành tem bưu chính để ghi công Garnier.

Mục lục

[sửa] Tiểu sử

Ông sinh tại St. Etienne. Sau khi tốt nghiệp trường trung học (lycée) tại Montpellier, ông theo học trường học viện hải quân (l'Ecole Navale) năm 1855. Sau khi tốt nghiệp, ông gia nhập hải quân Pháp. Sau những chuyến đi tới vùng biển BrasilThái Bình Dương ông đã nhận một chức vụ trong ban tham mưu của đô đốc Charner, người mà từ năm 1860 tới 1862đã có những chiến dịch quân sự tại Nam Kỳ.

Sau một khoảng thời gian nghỉ ngơi tại Pháp, ông đã trở lại phương Đông, và năm 1862 được bổ nhiệm làm thanh tra dân sự tại Nam Kỳ, và được giao nhiệm vụ quản lý hành chính khu vực Chợ Lớn, khi đó là ngoại ô Sài Gòn. Các tác phẩm đầu tiên của ông là "La Cochinchine" (Nam Kỳ) và "De la colonisation de la Cochinchine" (Về quá trình thực dân hóa Nam Kỳ), trong đó ý tưởng thám hiểm sông Mê Kông đã xuất hiện, do ông rất ấn tượng với các truyền thống văn hóa Trung Hoa.

[sửa] Thám hiểm sông Mê Kông

Theo đề nghị của ông, hầu tước Chasseloup-Laubat đã quyết định gửi một phái đoàn đi thám hiểm lưu vực sông Mê Kông, nhưng do Garnier không được coi là đủ lớn tuổi để có thể làm chỉ huy, nên chức vụ này được giao cho đại tá hải quân Ernest Doudard de Lagrée, Garnier làm phó cho ông này. Đoàn thám hiểm có 3 nhiệm vụ chính: khoa học, chính trị và ngoại giao. Cuộc thám hiểm bắt đầu ngày 5 tháng 6 năm 1866. Trong hành trình chuyến thám hiểm – theo lời của Roderick Murchison khi nói về nhà thám hiểm trẻ tuổi vào năm 1870, khi ông được tặng huy chương Victoria của Hiệp hội Địa lý Hoàng gia London - "từ Kratie tại Campuchia tới Thượng Hải 5.392 dặm đã được vượt qua, trong số đó 3.625 dặm, chủ yếu thuộc quốc gia không biết tới đối với địa lý của người châu Âu, đã được khảo sát kỹ lưỡng,và các vị trí đã được định vị bằng các quan sát thiên văn, gần như toàn bộ các quan sát đã được chính Garnier thực hiện".

Tháng 11 năm 1867, tình nguyện dẫn một chi đội tới Đại Lý, kinh đô của Hồi quốc Suleiman (Bình Nam quốc), nhà nước được lập ra từ cuộc nổi loạn của người Hồi tại Vân Nam, ông đã thực hiện thành công công việc còn hơn cả mạo hiểm này. Chỉ một thời gian ngắn sau khi Lagree chết (ngày 12 tháng 3 năm 1868), nghiễm nhiên Garnier trở thành người chỉ huy cuộc thám hiểm và ông đã thực hiện nó một cách an toàn tới sông Dương Tử (Trường Giang), và theo con sông này ra tới vùng bờ biển Trung Hoa để trở về Sài Gòn ngày 29 tháng 6 cùng năm. Sau đó ông lại quay trở lại Pháp. Công việc viết lại hành trình chuyến đi của ông đã bị cuộc chiến tranh Pháp-Phổ làm gián đoạn. Trong thời gian Paris bị vây hãm ông là trưởng ban tham mưu của đô đốc Mequet. Hồi ức của ông về thời gian vây hãm đã được công bố nặc danh thành từng phần trong Le Temps, và sau đó là trong Le Siege de Paris, journal d'un officier de marine (1871). Trong năm này, ông cùng Livingstone nhận được huy chương danh dự của Congrès de Géographie (Pháp).

Năm 1872, ông xin nghỉ phép 3 năm. Trở lại Nam Kỳ, nhận ra rằng tình thế chính trị tại đây khi đó là không thích hợp để tiếp tục thám hiểm, ông cùng vợ (cưới năm 1870) chuyển sang Thượng Hải, Trung Quốc. Mục tiêu của ông khi đó là muốn đi tới thượng nguồn sông Mê Kông tại khu vực Tây Tạng, đồng thời làm đại sứ hòa giải cho nhà Thanh với những người Hồi giáo. Đầu năm 1873 ông đã ngược dòng sông Dương Tử tới khu vực có nhiều thác nước.

Tiếng tăm chủ yếu của Garnier là ở chỗ ông là người châu Âu đầu tiên có ý tưởng thám hiểm sông Mê Kông, đồng thời là người thực hiện phần lớn công việc này.

[sửa] Quân sự

Cầu Giấy, nơi Francis Garnier bị giết ngày 21 tháng 12, 1873.

Cuối năm 1873, ông được đô đốc Dupré, thống đốc Nam Kỳ, gọi trở lại để giao nhiệm vụ hòa giải các mâu thuẫn, xung đột giữa người bản xứ tại Bắc Kỳ với những người Pháp khi đó có mặt tại đây, nhằm tìm kiếm vùng đất bảo hộ (thuộc địa) mới cho Pháp tại Bắc Kỳ. Ông dẫn đầu đội quân 200 người và 4 khẩu pháo tới Bắc Kỳ. Tuy nhiên, không sử dụng các biện pháp ngoại giao, ông đã dùng ngay vũ lực. Ngày 20 tháng 11 năm 1873 ông chiếm Hà Nội, thủ phủ Bắc Kỳ. Tiếp đó, ông và thuộc cấp nhanh chóng chiếm đóng ba tỉnh đồng bằng Bắc Kỳ nữa mà không gặp sức chống đối nào đáng kể. Nhưng chỉ một tháng sau ông đã bị giết trong trận đánh với Quân cờ đen của Lưu Vĩnh Phúc. Thi hài ông được đưa về Sài Gòn chôn cất năm 1875, cạnh Ernest Doudart de Lagrée. Người Pháp buộc phải rút khỏi Hà Nội sau khi ký kết hiệp ước với người Việt, tuy nhiên họ lại chiếm Hà Nội một lần nữa vào năm 1882, bản thân Garnier bị chính phủ Pháp quy cho là có trách nhiệm chính trong thảm họa đó.

[sửa] Trở về Pháp

Đêm 1 tháng 3 năm 1983, thi thể của Francis Garnier, sau khi được khai quật (cũng như của Ernest Doudart de Lagrée) đã được hỏa táng. Các lọ đựng tro đã được bàn giao lại cho tổng lãnh sự Pháp tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 3 năm 1983 và được chuyển về Pháp ngay sau đó để chôn cất tại Paris.

[sửa] Đề tài trong văn học Việt Nam

Tương truyền sau khi Garnier bị giết năm 1873, tổng đốc Hà Nội là Trần Đình Túc vâng lệnh triều đình tìm cách hoà hoãn với quân Pháp nên phải tổ chức lễ truy điệu. Nguyễn Khuyến bậc đại khoa được cử viết bài văn tế. Bài đó như sau:

Than ôi! Một phút sa cơ, ra người thiên cổ
Nhớ ông xưa: Cái mắt ông xanh, cái da ông đỏ
Cái tóc ông quăn, cái mũi ông lõ
Đít ông cưỡi lừa, miệng ông huýt chó
Ông đeo súng lục-liên, ông đi giày có mỏ
Ông ở bên Tây, ông sang bảo-hộ
Ông dẹp Cờ Đen, để yên con đỏ
Nào ngờ: Nó bắt được ông, nó chặt mất sỏ
Cái đầu ông kia, cái mình ông đó
Khốn-khổ thân ông, đù mẹ cha nó
Tôi: Vâng lệnh quan trên, cúng ông một cỗ
Này chuối một buồng, này rượu một hũ
Này xôi một mâm, này trứng một rổ
Ông có linh-thiêng, mời ông xơi hộ
Ăn uống no say, nằm cho yên chỗ
Ới ông Ngạc Nhi ơi! Nói càng thêm khổ!

Bài này đã đi vào văn học Việt Nam với lời văn mỉa mai tỏ ý đối kháng mặc dù tình thế lúc bấy giờ đã bắt người Việt phải nhượng bộ trước sức mạnh quân lực của người Pháp[3].

[sửa] Xem thêm

[sửa] Ghi chú

  1. ^ Năm sinh này lấy theo www.netmarine.net. Một số tài liệu khác ghi là 1839, như Encyclopedia britannica
  2. ^ Cấp bậc chính thức của ông là Đại úy Hải quân (Lieutenant de Vaisseau).
  3. ^ Lãng-nhân. Giai-thoại Làng Nho. Sài Gòn: Nam-chi Tùng-thư, trang 86-87.

[sửa] Tham khảo

  • Baker, Daniel chủ biên Explorers and Discoverers of the World. Detroit: Gale Research, 1993
  • Milton Osborne, River Road to China: The Search for the Source of the Mekong, 1866-73 (Atlantic Monthly Press, 1999) ISBN 0-87113-752-6
  • Milton Osborne, "Francis Garnier (1839-1873), Explorer of the Mekong River", Explorers of South-east Asia, Six Lives, chủ biên Victor T. King, (Kuala Lumpur: OUP, 1995)
  • Milton Osborne, River Road to China: The Mekong River Expedition, 1866-1873 (London and New York, 1975)
  • Câu chuyện về chuyến thám hiểm chính đã xuất hiện năm 1873, dưới tên gọi Voyage d'exploration en Indo-Chine effectue pendant les annees 1866, 1867 et 1868, publie sous la direction de M. Francis Garnier, avec le concours de M. Delaporte et de MM. Joubert et Thorel (2 tập). Chỉ có 800 bản được in ra, nguyên bản hiện nay ít có.
  • Bản dịch ra tiếng Anh của Walter E. J. Tips:
    • Travels in Cambodia and Part of Laos: the Mekong Exploration Commission report (1866-1868), tập 1 (White Lotus Press, 1996)
    • A pictorial journey on the old Mekong: Cambodia, Laos and Yunnan: the Mekong Exploration Commission report (1866-1868), tập 2 (White Lotus Press, 1998)
  • Ghi chép về sông Dương Tử của Garnier, lấy từ Bulletin de la Soc. de Geog. (1874).
  • Chronique royale du Cambodje của Garnier, được in lại từ Journal Asiatique năm 1872.
  • Ocean Highways (1874), ký sự của đại tá Yule
  • Hugh Clifford, Further India, trong loạt Story of Exploration (1904).
  • John Keay, Mad About The Mekong ISBN 0-00-711115-0