Fukuda Yasuo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Fukuda Yasuo
Fukuda meets Rice February 27, 2008 cropped.jpg
Chức vụ
Nhiệm kỳ 26 tháng 12 năm 2007 – 24 tháng 9 năm 2008
Tiền nhiệm Shinzo Abe
Kế nhiệm Asō Tarō
Tổng thư ký nội các
Nhiệm kỳ 10, 2000 – 07, 5, 2004
Tiền nhiệm Hidenao Nakagawa
Kế nhiệm Hiroyuki Hosoda
Thông tin chung
Đảng Đảng Dân chủ Tự do Nhật Bản (LDP)
Sinh 16 tháng 7 năm 1936
tỉnh Gunma, Nhật Bản
Vợ Kiyoko Fukuda
Đây là một tên người Nhật; họ tên được viết theo thứ tự Á Đông (họ trước tên sau): họ là Fukuda. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp tên người Nhật hiện đại khi viết bằng ký tự La Tinh thường được viết theo thứ tự Tây phương (tên trước họ sau).

Fukuda Yasuo (Kanji:福田 康夫, Hiragana:ふくだ やすお, Hán-Việt: Phúc Điền Khang Phu; 16 tháng 7 năm 1936 -) là nguyên thủ tướng đời thứ 91 của Nhật Bản và đồng thời là nguyên chủ tịch Đảng Dân chủ Tự do Nhật Bản. Ông được bổ nhiệm vào hai trọng trách này vào tháng 12, năm 2007, sau khi người tiền nhiệm Shinzo Abe đột ngột từ chức. Ông là chính trị gia lão thành theo đường lối ôn hoà.

Ngày 1 tháng 9 năm 2008 ông đột ngột tuyên bố từ chức, sau khi giữ chức vụ thủ tướng chưa được một năm, và đề xuất một cuộc bầu cử nội bộ trong đảng LDP để tìm người kế nhiệm [1].

Fukuda là người từng giữ chức vụ Tổng thư ký nội các lâu nhất trong lịch sử Nhật Bản. Ông đã phục vụ 3 năm rưỡi dưới thời thủ tướng Yoshiro MoriJunichiro Koizumi. Ông cũng là con trai cả của nguyên thủ tướng Nhật Fukuda Takeo.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Fukuda sinh tại huyện Takasaki, tỉnh Gunma, là con trai cả của chính trị gia (sau này là thủ tướng thứ 67 của Nhật) Takeo Fukuda. Ông lớn lên tại Setagaya, Tokyo, theo học trường trung học Azabu và tốt nghiệp bằng cử nhân kinh tế tại trường Đại học Waseda vào năm 1959.

Sau khi tốt nghiệp, ông làm việc cho công ty Maruzen Petroleum (hiện nay thuộc sở hữu của tập đoàn Cosmo Oil). Ông chỉ dính dáng một chút ít tới chính trị cho đến 17 năm sau đó, phấn đấu làm chức trưởng phòng, tiêu biểu cho tầng lớp "người làm công ăn lương" của Nhật. Ổng đến sống ở Mỹ từ năm 1962 đến năm 1964.

Khi cha ông Takeo Fukuda làm thủ tướng từ năm 1976 đến 1978, Yasuo trở thành thư ký chính trị. Từ năm 1978 đến năm 1989, ông làm viện trưởng viện về các vấn đề tài chính Kinzai, như một ủy viên quản trị từ 1986 trở về trước.

Sự nghiệp chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1990, Fukuda có được một ghế trong Hạ nghị viện Nhật Bản. Năm 1997, ông được bầu vào chức phó chủ tịch Đảng Dân chủ Tự do (LDP) và trở thành tổng thư ký nội các dưới thời Yoshiro Mori vào tháng 10 năm 2000. Ông xin thôi chức tổng thư ký nội các vào ngày 7 tháng 5 năm 2004 do vụ scandal về chính trị liên quan đến hệ thống trợ cấp của Nhật.

Fukuda được xem là một ứng cử viên cho vị trí lãnh đạo đảng LDP năm 2006, nhưng ngày 21 tháng 7 ông quyết định không tham gia ứng cử. Thay vào đó, Shinzo Abe chiến thắng trước Junichiro Koizumi để trở thành lãnh đạo đảng LDP và Thủ tướng Nhật Bản.

Trở thành Thủ tướng[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Abe chính thức từ chức tháng 12 năm 2007, Fukuda tuyên bố sẽ ra ứng cử vào chức chủ tịch Đảng Dân chủ Tự do (LDP), đồng nghĩa với việc ứng cử chức Thủ tướng - do Đảng LDP chiếm đa số ghế tại Hạ nghị viện. Fukuda đã nhận được một sự ủng hộ to lớn cho những cuộc vận động của ông, bao gồm cả phe lớn nhất trong Đảng LDP, của Ngoại trưởng Nobutaka Machimura, mà Fukuda là một thành viên. Bộ trưởng Tài chính Fukushiro Nukaga‎, người ban đầu định ra ứng cử chức chủ tịch LDP cũng hậu thuẫn Fukuda. Đối thủ cạnh tranh duy nhất của Fukuda - Taro Aso, đã công khai thừa nhận thất bại một tuần trước cuộc bầu cử.

Trong cuộc bầu cử, ngày 23 tháng 12, Fukuda bỏ xa đối thủ Aso, nhận được 330 phiếu bầu (chiếm 63%) so với 197 của Aso. Fukuda chính thức được bầu làm Chủ tịch thứ 22 của Đảng cầm quyền LDP, đồng nghĩa với việc trở thành Thủ tướng thứ 91 của Nhật Bản vào ngày 25 tháng 12. Ông nhận được 338 phiếu, hơn 100 phiếu so với cần thiết để chiếm đa số tại Hạ nghị viện; mặc dù Thượng nghị viện, chiếm đa số bởi Đảng Dan chủ đối lập, bầu cho Ichiro Ozawa hơn Fukuda từ 133 đến 106 phiếu. Nó thể hiện sự chiếm ưu thế hơn hẳn của Hạ nghị viện, theo như điều 67 của Hiến pháp Nhật Bản.

Fukuda và chính phủ của ông chính thức ra mắt Nhật hoàng Akihito vào ngày 26 tháng 12.

Ngày 1 tháng 9 năm 2008, ông Fukuda tuyên bố từ chức do không vượt qua được những chia rẽ trong Quốc hội. Ông hiện là hội viên Câu lạc bộ Madrid.

Thành phần nội các[sửa | sửa mã nguồn]

Các thành viên trong chính phủ của ông Fukuda, hình thành ngày 26 tháng 12 năm 2007[1]. Hầu hết đều là những thành viên dưới thời ông Shinzo Abe[2].

Thư ký Machimura Nobutaka
Đối nội Masuda Hiroya
Pháp luật Hatoyama Kunio
Ngoại giao Komura Masahiko
Tài chính Nukaga Fukushiro
Giáo dục đào tạo Tokai Kisaburo
Y tế - lao động - phúc lợi Masuzoe Yoichi
Nông nghiệp Wakabayashi Masatoshi
Kinh tế Amari Akira
Hạ tầng, đất đai Fuyushiba Tetsuzo
Môi trường Kamoshita Ichiro
Quốc phòng Ishiba Shigeru
An ninh,
Thảm họa
Izumi Shinya
Chính sách kinh tế Ota Hiroko
Dịch vụ tài chính,
Cải tổ chính trị
Watanabe Yoshimi
Okinawa và Lãnh thổ phương Bắc,
Chính sách công nghệ,
Điều chỉnh cải cách
Kishida Fumio
Dân số, bỉnh đẳng giới Kamikawa Yōko

Tuyên bố[sửa | sửa mã nguồn]

Ông cam kết sẽ giữ trật tự trong đảng cầm quyền, sẽ tiếp tục cuộc chiến chống khủng bố, thực hiện cải cách, duy trì nền kinh tế phát triển và đứng vị trí lớn thứ hai trên thế giới.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Members of the Abe Cabinet”. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2007.  NB: Despite the title of the page it is indeed the list of members of Fukuda Cabinet.
  2. ^ Masami Ito (26 tháng 9 năm 2007). “Fukuda elected prime minister in Diet faceoff”. The Japan Times. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2007. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]