Futsal

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Futsal là một loại hình bóng đá thi đấu trong nhà. Tên của nó có nguồn gốc từ tiếng Bồ Đào Nha "futebol de salão" và tiếng Tây Ban Nha "fútbol sala/de salón", có thể dịch là bóng đá trong nhà.

Futsal được thi đấu giữa hai đội, mỗi đội 5 cầu thủ, trong đó một người là thủ môn. Thêm vào mỗi đội còn có thể có một số cầu thủ dự bị. Không giống như một số loại bóng đá trong nhà khác, bóng của Futsal nặng hơn và nhỏ hơn bóng đá thông thường. Rất nhiều cầu thủ bóng đã đã bắt đầu chơi futsal.

Một trận thi đấu trong nhà

Lịch sử của futsal[sửa | sửa mã nguồn]

Sự phát triển của futsal có thể truy nguyên từ năm 1930 tại Montevideo, Uruguay, cùng năm tổ chức lễ khai mạc World Cup ở nước này. Môn futsal đầu tiên này được phát triển bởi Juan Carlos Ceriani để thi đấu tại YMCAs. Trò chơi của Ceriani được thiết kế cho 5 cầu thủ mỗi đội và có thể chơi trong nhà hoặc ngoài trời. Cũng khoảng năm đó, một lại bóng đá tương tự chơi trên sân bóng rổ được phát triển ở São Paulo, Brazil. Những loại bóng đã mới này nhanh chóng được chấp nhận khắp Nam Mỹ. Liên đoàn thể thao Brazil đặt ra luật lệ chính thức đầu tiên cho futebol de salão vào năm 1958.

FIFUSA (Federación Internacional de Fútbol de Salón, International Futsal Federation) Liên đoàn Futsal thế giới được thành lập năm 1971 để quản lý môn này, và tổ chức giải vô địch futsal thế giới đâu tiên ở São Paulo năm 1982. Do một cuộc tranh cãi với FIFA về việc quản lý fútbol, FIFUSA lập ra futsal năm 1985.

FIFA sớm bắt đầu quản lý môn futsal của riêng họ, tạo ra một phiên bản riêng với những luật lệ và tổ chức giải vô địch futsal thế giới lần đầu tiên năm 1989 tại Rotterdam, Hà Lan. Một trong những thay đổi đáng kể nhất là tăng trọng lượng và giảm kích cỡ của quả bóng (kích cỡ số 4 so với bóng tiêu chuẩn)nhằm giảm độ nảy của bóng 30%, điều đó cho phép chơi nhanh hơn và lần đầu tiên, có thể ghi bàn bằng đầu (dù nó vẫn còn khó khắn và không phổ biến).

Năm 2002, các thành viên của Liên đoàn Futsal Liên Mỹ PANAFUTSAL (La Confederación Panamericana de Futsal, The Pan-American Futsal Confederation) thành lập Hiệp hội Futsal Thế giới AMF (Asociación Mundial de Fútbol de Salón, World Futsal Association), một tổ chức futsal quốc tế độc lập với FIFA và là tổ chức kế tục của FIFUSA. Cả FIFA và AMF tiếp tục cùng quản lý futsal.

Một số vận động viên chuyên nghiệp bắt đầu chơi futsal để luyện tập các kĩ năng cơ bản. Các cầu thủ Brazil như Ronaldinho, Robinho, Ronaldo, Rivaldo và rất nhiều người khác đã chơi futsal. Cũng có một số lượng đáng kể các cầu thủ khác như là Falcão tiếp tục chơi futsal ở cấp câu lạc bộ.

Luật chơi[sửa | sửa mã nguồn]

Cơ quan quốc tế về futsal, FIFA và AMF có trách nhiệm duy trì và ban hành các quy tắc chính thức cho các phiên bản tương ứng của futsal. Giống như bóng đá, futsal có luật lệ xác định tất cả mọi khía cạnh của trò chơi, bao gồm cả những gì có thể được thay đổi để phù hợp với cuộc thi và giải đấu địa phương. Có mười bảy luật trong Luật Futsal.

Người chơi, thiết bị và các chức danh[sửa | sửa mã nguồn]

Có năm người chơi đối với mỗi đội, bao gồm cả thủ môn. Số lượng các sản phẩm thay thế được cho phép tối đa là bảy, với các thay thế không giới hạn trong trận đấu. Nếu một đội có ít hơn ba cầu thủ trong đội hình, trận đấu sẽ bị bỏ qua.

Bộ sản phẩm được tạo thành một áo hoặc áo sơ mi với tay áo, quần, vớ, shinguards làm bằng cao su hoặc nhựa, và giày có đế cao su. Thủ môn được phép mặc quần dài và một bộ đồ màu khác nhau, để phân biệt mình với các cầu thủ khác trong đội và trọng tài. Trang sức không được cho phép, cũng như các vật khác có thể gây nguy hiểm cho các cầu thủ hoặc ảnh hưởng cho người khác trong lúc chơi bóng.

Trận đấu được điều khiển bởi một trọng tài, những người thực thi pháp luật của trò chơi, và trọng tài thứ nhất(the first referee) là người duy nhất có thể dừng trận đấu vì sự can thiệp từ bên ngoài sân cỏ. Trọng tài này cũng được hỗ trợ bởi một trọng tài thứ hai. Các quyết định của trọng tài là cuối cùng và chỉ có thể được thay đổi nếu các trọng tài nghĩ rằng điều đó là cần thiết và cuộc chơi sẽ không khởi động lại. Ngoài ra còn có một trọng tài thứ ba, được cung cấp trang thiết bị để lưu giữ hồ sơ phạm lỗi trong trận đấu. Trong trường hợp thương tích cho trọng tài hoặc trọng tài thứ hai, trọng tài thứ ba sẽ thay thế trọng tài thứ hai.

Các sân thi đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Sân được làm bằng gỗ hoặc vật liệu nhân tạo, gỗ hoặc bề mặt tương tự, hoặc bất kỳ vật liệu bằng phẳng, mịn màng và không bị mài mòn cũng có thể được sử dụng. Chiều dài của sân là trong phạm vi 38–42 m, và chiều rộng là trong phạm vi 20–25 m trong các trận đấu quốc tế. Đối với các trận đấu khác, có thể là 25–42 m chiều dài, trong khi chiều rộng có thể là 16–25 m, miễn là chiều dài của các đường biên (touchlines) dài hơn so với ranh giới của khung thành. Trần phải cao ít nhất là 4 m (4 yd). Một khung thành hình chữ nhật được đặt ở giữa. Các cạnh bên trong của các khung thành theo chiều dọc phải là 3 m (3 yd) ngoài, và cạnh dưới của xà ngang ngang tương đương 2 m (2,2 yd) trên mặt đất. Lưới làm bằng sợi đay, cây gai dầu hoặc nylon được gắn vào mặt sau của trụ khung thành và xà ngang. Phần dưới của lưới được gắn vào ống cong hoặc một phương tiện hỗ trợ thích hợp. Độ sâu của khung thành là 80 cm ở phía trên và 1 m ở phía dưới

Trong mặt trước của từng khung thành là một khu vực được gọi là khu cấm địa. Khu vực này được tạo ra bằng cách vẽ phần tư vòng tròn với bán kính 6m (7 yd) từ đường biên khung thành, tâm điểm là các trụ khung thành. Phần trên của mỗi phần tư vòng tròn sau đó nối với một đường kẻ 3,16m (3,46 yd) chạy song song với đường khung thành giữa hai trụ khung thành. Đường kẻ đánh dấu rìa của khu vực cấm địa được biết đến như đường cấm địa. Khu vực cấm địa là nơi thủ môn được phép chạm bóng bằng tay của mình. Một cú đá phạt từ chấm phạt đền được trao tặng nếu một người chơi thực hiện một pha phạm lỗi bên trong khu cấm địa.

Các giải thi đấu quốc tế chính[sửa | sửa mã nguồn]

1971 - 2002: FIFUSA Giải vô địch Futsal thế giới

  • 1982 São Paulo, Brazil. Winner: Brazil. Runner-Up: Paraguay.
  • 1985 Madrid, Tây Ban Nha. Winner: Brazil. Runner-Up: Tây Ban Nha.
  • 1988 Australia. Winner: Paraguay. Runner-Up: Brazil.
  • 1991 Italy. Winner: Portugal. Runner-Up: Paraguay.
  • 1994 Argentina. Winner: Argentina. Runner-Up: Colombia.
  • 1997 Mexico. Winner: Venezuela. Runner-Up: Uruguay.
  • 2000 Bolivia. Winner: Colombia. Runner-Up: Bolivia.

Từ 2002: AMF Giải vô địch Futsal thế giới

  • 2003 Asunción, Paraguay. Winner: Paraguay. Runner-Up: Colombia.
  • 2007 Mendoza, Argentina. To follow...

Từ 1989: FIFA Futsal World Cups

  • 1989 (Rotterdam, Netherlands). Winner: Brazil. Runner-Up: Netherlands. 3rd: USA. 4th: Belgium.
  • 1992 (Hong Kong). Winner: Brazil. Runner-Up: USA. 3rd: Tây Ban Nha. 4th: Iran.
  • 1996 (Barcelona, Tây Ban Nha). Winner: Brazil. Runner-Up: Tây Ban Nha. 3rd: Russia. 4th: Ukraine.
  • 2000 (Guatemala City, Guatemala). Winner: Tây Ban Nha. Runner-Up: Brazil. 3rd: Portugal. 4th: Russia.
  • 2004 (Taiwan). Winner: Tây Ban Nha. Runner-Up: Italy. 3rd: Brazil. 4th: Argentina.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]