Gà Tò

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Gà Tò là một giống nuôi, có xuất xứ từ làng Tò (nay thuộc xã An Mỹ, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình). Gà Tò phù hợp với hình thức chăn nuôi chăn thả, cho thịt đặc biệt thơm ngon. Tương truyền, gà Tò xưa kia là sản vật quý báu để dân làng nơi đây dâng tiến lên.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Đến nay, chưa có tài liệu lịch sử nào chính thức công bố về xuất xứ của giống này. Nhưng theo những câu chuyện còn truyền lại của bà con nơi đây thì gà Tò có, hoặc được đặt tên từ đời nhà Trần (từ năm 1225 đến năm 1400). Truyện kể rằng: năm xưa, trong làng có một vị Đức Tiến Công vốn là con rể của, người đã đem sản vật giống nơi quê nhà để tiến đức vua cha. Giống thân chắc nịch, tướng to cao, thịt thì thơm ngon đặc biệt không gì sánh được làm cho nhà Vua rất mực hài lòng. Ngài lệnh ban thưởng cho làng Tò mười nghìn đấu gạo và kể từ đó cái tên gà Tò (còn gọi tiến vua) ra đời.

Ngày xưa, tới tháng bảy âm lịch hàng năm là bốn làng trong vùng (Tô Xuyên, Tô Đàm, Tô Hồ, Tô Đê) lại tổ chức lễ Bá Yết Thành Hoàng, lễ vật được dâng cúng là một chú gà Tò thật to, khỏe. Đến nay, nghi lễ ấy không còn thấy xuất hiện.

Đặc điểm giống[sửa | sửa mã nguồn]

Hình dáng[sửa | sửa mã nguồn]

Gà Tò có dáng vóc to cao hơn các giống khác. Con trống có trọng lượng trung bình đạt từ sáu tới bảy kilôgam. Con mái có trọng lượng trung bình đạt từ ba tới bốn kilôgam. Khi trưởng thành, gà trống thường có lông màu cánh gián, mã tím, có chút pha hoa mơ. mái có lông màu trứng cà cuống.
Gà Tò từ lúc mới nở tới khi đạt bốn tuần tuổi đạt khoảng 0,67 kilogam. Đến thời kì này, lông chân có hiện tượng thưa dần. Và đến tận kì sinh sản, lông mới mọc lại như thường. Lúc này, gà Tò trống có da đỏ như gà Trọi.

Đặc biệt[sửa | sửa mã nguồn]

Gà Tò có một đặc điểm đặc biệt là có lông phần chân (từ bàn chân tới nơi tiếp giáp với đùi). Kẽ chân có màu đỏ tía.

Sinh sản[sửa | sửa mã nguồn]

Gà Tò đẻ một lần từ mười lăm tới mười tám trứng. Một năm đạt khoảng một trăm ba mươi tới một trăm năm mươi trứng. Gà Tò không có hiện tượng ấp bóng như một số giống khác, sau mỗi lần đẻ chúng nghỉ từ năm tới bảy ngày sau đó đẻ tiếp. Gà mái khi đẻ trứng đạt tới trọng lượng khoảng hai phảy năm kilôgam. Từ khi ấp nở tới lúc xuất chuồng khoảng bảy tháng.
Gà Tò mái do có lông chân dễ bị ngấm nước, làm ảnh hưởng đến quá trình ấp nở trứng, nên tỷ lệ nở trứng ở gà Tò không cao. Cũng có ý kiến cho rằng, với thể hình quá khổ làm cho gà Tò mái trở nên vụng về trong việc ấp trứng. Đây cũng là một trong các nguyên nhân làm cho gà Tò trở nên hiếm. Dân gian có câu : Gà Tò ăn khỏe đẻ vụng.

Phương thức nuôi[sửa | sửa mã nguồn]

Do chưa từng được thử nuôi theo hình thức nuôi công nghiệp, nên gà Tò đến ngày nay mới chỉ được biết đến với cách nuôi thả thông thường. Người dân địa phương có câu ca: Gà Tò ăn quẩn cối xay để ám chỉ tập quán ăn uống của gà Tò. Cối xay đất có chiều cao khoảng bảy mươi centimet, gà Tò với chiều cao của nó có thể với qua mặt cối để ăn thóc ở trong cối.

Bảo tồn[sửa | sửa mã nguồn]

Thực trạng gà Tò[sửa | sửa mã nguồn]

Số gà Tò còn lại ở làng Tò ước tính đến nay còn khoảng chưa tới một nghìn con. Trong số đó gà Tò thuần chủng còn rất ít, đa phần đã bị lai tạp. Một số còn cho rằng, gà Tò thuần chủng thậm chí đã tuyệt chủng. Gà Tò lai tạp không to bằng gà Tò thuần chủng, chỉ đạt khoảng hai phảy năm tới bốn kilôgam. Và khả năng kháng bệnh của gà Tò lai cũng kém hơn.

Bảo tồn gen[sửa | sửa mã nguồn]

Theo một dự án mới nhất về bảo tồn nguồn gen vật nuôi Việt Nam của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam thì gà Tò được xếp vào loại động vật đặc biệt quý hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng và cần được bảo tồn. Viện Chăn nuôi quốc gia là đơn vị thực hiện dự án, đứng đầu là Phó giáo sư, tiến sĩ Võ Văn Tiệu - Phó Viện Trưởng. Năm 2006 dưới sự phân công của Viện, công ty cổ phần chăn nuôi Thái Bình đã tiến hành nuôi thử với số lượng hai trăm con gà Tò. Đến cuối năm 2006, đơn vị này đã nhân thuần được một trăm sáu sáu con gà Tò thuần chủng. Tiếp tục phát triển nhân thuần qua các năm 20072008 viện thu được lần lượt là 150 con và 160 con.

Kết quả nghiên cứu ban đầu cho thấy, gà Tò thuần chủng có tỷ lệ sống sót và sức đề kháng bệnh tốt hơn tất cả các giống Việt Nam. Từ không tới bốn tuần tuổi đạt tỷ lệ sống sót 94,85%. Từ bốn đến 17 tuần tuổi đạt 96,88%. Và tỷ lệ nuôi sống bình quân ở cả hai giai đoạn là 93,96%. Trong khi đó gà Ri là 85,6%, gà H'Mong là 80,31%, gà Mía là 86,31%.

Những con số về mức độ đầu tư dự án chưa được công bố. Ở mô hình cấp cơ sở, dự án đã đầu tư bốn mươi triệu đồng, cho mỗi hộ nuôi mười nghìn trên một con gà Tò được nuôi. Tuy nhiên việc đầu tư này không mang lại hiệu quả thiết thực vì khâu kiểm tra, rà soát không được thực hiện.

Ca dao[sửa | sửa mã nguồn]

Gà Tò ngày nay còn được biết đến qua các câu ca còn lưu truyền như: Gà Tò, Mía Tó, vó Vạn Đồn, L...Cổ Am, Gà Tò ăn quẩn cối xay, hay Gà Tò ăn khỏe đẻ vụng.

Tham Khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Danh mục động vật quý hiếm trong quỹ bảo tồn gen quốc gia.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]